Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

Một số thuật ngữ: Debit/Credit card/Annuities/Securities

 
1. Chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp (Mortgage backed security) 

Chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp là loại CK được phát hành dựa trên cơ sở một hoặc một nhóm các khoản thế chấp.


Về bản chất, CK bảo đảm bằng thế chấp là một loại trái phiếu. 


Thay vì, trả cho nhà đầu tư một khoản trái tức cố định và tiền gốc, thì người phát hành CK thanh toán bằng dòng tiền phát sinh từ những khoản thế chấp được dùng để đảm bảo cho số CK đó. 


Dạng đơn giản nhất của loại CK này là kiểu "sang tay thế chấp", trong đó tất cả số tiền gốc và lãi thanh toán hàng tháng(sau khi đã trừ đi phí dịch vụ) trong một hợp đồng thế chấp sẽ được "sang tay" cho nhà đầu tư. (Source: Saga)

2. Annuities

Annuities tạm dịch là Niên Kim, là một phương thức đầu tư khá phổ biến, đặc biệt trong giới hưu trí, hay những người đã quá mệt mỏi với những biến động của TTCK, mà không muốn khoanh tay nhìn số tiền của mình nhúc nhích một cách chậm chạp trong TK ngân hàng. 


Khi mua annuities, NĐT sẽ chuyển cho công ty tài chính hay công ty bảo hiểm một số tiền, công ty sẽ dùng tiền đầu tư làm ăn, và sẽ trả dần dần, hay trả toàn bộ tiền vốn cùng với lợi nhuận sau một thời hạn nào đó. 


Chữ Annuities xuất phát từ Latin: Annuitas, có nguồn gốc từ Annuus, tức là “yearly” (thường niên) ám chỉ là số tiền sẽ được trả ra từ từ để chi dùng hàng năm, mà người lấy tiền ra là Annuitant, và việc lấy tiền ra là Annuitize. 


Sau này, người ta dùng luôn từ Hán – Việt: Niên Kim, dịch từ chữ “golden years” tức là: “những năm tháng vàng son”, vì muốn nói đến thời gian hưởng hưu trí. 


Tuy nhiên, vì nhiều người không thích số tiền của mình bị “giữ lại” và trả ra từ từ, nên có những chương trình annuities cho phép người ta lấy ra toàn bộ số tiền sau khi hết hạn hợp đồng (walk-aways).

3. Sự khác nhau giữa Debit Card và Credits Cards?

Credit/Debit card đều có đặc điểm chung đó là: có thể rút tiền tại các máy ATM, thanh toán cho việc mua hàng hóa tại các cửa hàng hay trên mạng mà không cần phải dùng đến tiền mặt.

Có thể nói chúng là một chiếc Ví điện tử giúp bạn thực hiện mọi giao dịch tại những nơi chấp nhận thẻ như: các cửa hàng, các siêu thị, các khách sạn, các site bán hàng trực tuyến v.v..

Điểm khác nhau:

- Debit card (Thẻ ghi nợ): đơn giản là bạn có bao nhiêu tiền trong tài khoản thì có thể chi tiêu bấy nhiêu. Khi đã hết tiền thì bạn không thể thực hiện tiếp các giao dịch khác. Muốn thực hiện giao dịch khác bạn phải tiếp tục đóng tiền vào thẻ.

Thủ tục phát hành: rất đơn giản, chỉ cần có CMND hoặc hộ chiếu là bạn đã có thể làm một chiếc thẻ.

Chức năng: bạn có thể thanh toán offline tại các cửa hàng, siêu thị, khách sạn, v.v. Có thể thanh toán online nhưng số lượng site hay shop online chấp nhận loại thẻ này hạn chế hơn thẻ credit.

Credit card (thẻ tín dụng): có đầy đủ chức năng của một thẻ debit, ngoài ra bạn còn được ngân hàng cấp cho một hạn mức tín dụng để có thể chi tiêu thêm (trong phạm vi hạn mức tín dụng) khi mà tài khoản thẻ của bạn đã hết tiền. 


Khi không có tiền trong thẻ bạn vẫn có thể chi tiêu và rút tiền. Nói ngắn gọn là bạn vay tiền của ngân hàng để chi tiêu trước rồi trả lại cho ngân hàng sau.


Thủ tục phát hành: phức tạp hơn thẻ debit. Để được ngân hàng cấp cho bạn thẻ credit, bạn phải đảm bảo hoặc cho ngân hàng thấy được khả năng thanh toán của bạn. Hai hình thức ngân hàng áp dụng để đảm bảo rằng bạn có khả năng thanh toán cho họ là:

> Tín chấp: tức là bạn phải đựoc một cơ quan hay tổ chức nào đó đảm bảo hoặc chứng minh là: bạn có thể thanh toán cho ngân hàng các khoản tín dụng để chi tiêu của mình.

> Thế chấp: bạn phải dùng tiền hoặc các tài sản của mình thế chấp để đảm bảo với ngân hàng. Hình thức thế chấp có thể là tiền, là tiền trong tài khoản, là sổ tiết kiệm hoặc bất cứ tài sản có giá trị nào khác mà bạn có.

Chức năng: đây là loại thẻ có đầy đủ các chức năng giống như thẻ debit, ngoài ra bạn còn được chấp nhận rộng rãi hơn. Hầu như tất cả đều chấp nhận thẻ credit. 

>> Mở tài khoản chứng khoán - Tư vấn đầu tư chứng khoán - Ủy thác đầu tư
(saga)
Share:

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013

Steven Cohen - Huyền thoại phố Wall

Tỷ phú Steven A. Cohen – “người thuyền trưởng” của quỹ đầu cơ SAC Capital Advisors – được biết đến trên phố Wall với vai trò là một trong những nhà giao dịch thành công nhất. 

Có trụ sở tại Stamford, SAC Capital Advisors được thành lập năm 1992 với số vốn ban đầu chỉ là 25 triệu USD. Giờ đây, quỹ này đã quản lý khối tài sản trị giá 14 tỷ USD và có khoảng 900 nhân viên trên toàn cầu. 

Tờ Business Insider điểm lại những cột mốc quan trọng trong cuộc đời và sự nghiệp của Steve A. Cohen.
Cohen là người gốc Long Island. Ông lớn lên trong một gia đình trung lưu và có rất nhiều anh chị em.

Steve Cohen sinh ngày 11/6/1956, là người con thứ 3 trong gia đình có 8 người con. Ông lớn lên ở Great Neck, Long Island, New York. 

Cha mẹ ông làm việc trong một nhà máy dệt. Mẹ ông cũng dạy cả piano.


Lúc còn học trung học, vị tỷ phú làm thêm trong 1 siêu thị.

Cohen bán ở quầy hoa quả tại siêu thị Bohack và kiếm được 1,85 USD/giờ.  Tuy nhiên, sau đó ông bỏ việc bởi nhận ra có thể kiếm được nhiều tiền hơn trên bàn chơi bài poker.  

Cohen tốt nghiệp ngành kinh tế trường Wharton 


Ông theo học ngành kinh tế tại trường kinh doanh Wharton (trực thuộc Đại học Pennsylvania).  
 
Ngoài giờ học, ông chơi chứng khoán và đánh bại các bạn học ở các ván bài poker.


Theo thông tin từ một bài báo đăng tải trên Bloomberg Businessweek năm 2003, Cohen yêu thích chứng khoán nhiều đến nỗi ông thường giao dịch trong giờ nghỉ giải lao giữa các giờ học. Ông cũng tham gia hội sinh viên  Zeta Beta Tau fraternity. 
 
Cohen bắt đầu sự nghiệp trên phố Wall tại Gruntal & Co và trở thành huyền thoại ngay từ những ngày đầu tiên. 


Năm 1978, Cohen tốt nghiệp và làm việc trong một ngân hàng đầu tư nhỏ trên phố Wall. Sau đó, ông đảm nhiệm vị trí nhân viên giao dịch chứng khoán phái sinh tại hãng môi giới Gruntal & Co. 

Phố Wall đồn đại rằng ông kiếm được tới 8.000 USD trong ngày đầu tiên đi làm và sau đó kiếm được khoảng 100.000 USD mỗi ngày.

Cohen trở thành ngôi sao tại Gruntal và cũng điều hành một nhóm các nhân viên giao dịch.

Năm 1984, Cohen bắt đầu điều hành nhóm riêng tại Gruntal.  Ông tiếp tục duy trì nhóm này cho đến khi thành lập quỹ đầu cơ của riêng mình. 
Năm 1992, Cohen thành lập SAC Capital. Quỹ này có trụ sở ở cùng tòa nhà với Gruntal.
Năm 1992, Cohen thuê văn phòng làm việc ở tầng cao hơn 9 tầng so với văn phòng của Gruntal và thành lập nên SAC Capital. Một số nhân viên giao dịch của Gruntal cũng đi theo Cohen. 

Hiện nay, SAC có trụ sở tại Stamford, Connecticut.

SAC Capital là một trong những quỹ đầu cơ được chú ý nhiều nhất trên phố Wall. 


Năm 2006, tờ Wall Street Journal mô tả về SAC: “Phòng giao dịch rộng 20.000 foot2 ở SAC Capital Advisors hoàn toàn im ắng. Cohen ngồi ở vị trí trung tâm. Điện thoại nhấp nháy thay vì đổ chuông. Các ổ cứng máy tính bị chuyển đi để tránh tiếng kêu của máy móc. 

Các giao dịch viên mặc áo jacket có in chữ SAC ngồi thành từng hàng, chăm chú quan sát Cohen và chờ đợi lệnh phát ra để bán cổ phiếu.

Cohen thuê một bác sĩ tâm thần học chăm sóc cho nhân viên.


Đầu những năm 1990, Cohen thuê bác sĩ tâm thần học  Ari Kiev – người đã từng làm việc với các vận động viên dự thi Olymic – rèn luyện nhân viên chiến đấu với những áp lực căng thẳng trên thị trường. Tháng 11/2009, vị bác sĩ này qua đời ở tuổi 75. 
 
SAC thực hiện lượng lớn giao dịch trên phố Wall 

Quay trở lại năm 2006, tờ WSJ đưa tin các giao dịch được thực hiện bởi SAC chiếm 2% tổng khối lượng giao dịch của toàn thị trường.  
 
Cohen lần đầu tiên trở thành cái tên được tất cả mọi người biết đến trong giai đoạn cuối những năm 1990 – 2000

Năm 1998 và 1999, SAC có mức tăng trưởng lợi nhuận hàng năm lên đến 70%. Sau đó, vào năm 2000, quỹ đầu cơ của ông đoán đúng xu hướng của cổ phiếu công nghệ và tiếp tục đạt mức tăng trưởng 70%. 
 
Cohen đã kết hôn 2 lần. Năm 1979, ông cưới người vợ đầu tiên và cuộc hôn nhân này không kéo dài. 

Năm 23 tuổi, Cohen kết hôn với Patricia Finke.  Họ có 2 đứa con và ly hôn năm 1988. 


Nhiều năm sau, Patricia đâm đơn kiện Cohen, cho rằng ông đã gian lận và giấu giếm hàng triệu USD 


Năm 2009, vợ cũ của Cohen buộc tội ông giấu giếm hàng triệu USD và một phần số tiền đó đến từ giao dịch nội gián cổ phiếu RCA. 

Hoạt động giao dịch cổ phiếu này được thực hiện từ năm 1985, trước khi RCA bị General Electric thâu tóm. Cuối cùng, vụ kiện bị bác bỏ vào năm 2011. 

Cohen gặp người vợ hiện tại thông qua dịch vụ hẹn hò. 

Năm 1991, sau khi đã ly dị, Cohen gặp người vợ hiện tại Alexandra Garcia thông qua một dịch vụ hò hẹn. Alexandra là một bà mẹ đơn thân lớn lên ở Washington Heights.  Họ có với nhau 4 người con. 

Gia đình Cohen sống trong khu biệt thự rộng lớn tại Connecticut.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html

Nhà Cohens sống trong căn hộ rộng 35.000 foot2 trên mảnh đất 14 mẫu Anh ở Greenwich, Connecticut. 

Năm 1998, họ mua biệt thự này với giá 14 triệu USD.  Khu biệt thự có sân chơi bóng rổ, bể bơi trong nhà và khu trượt băng rộng 6,734 foot2. 
Cohen rất ghét bị gọi là 'Stevie.'

Trên phố Wall, ông thường được gọi là "Stevie”. Ông rất ghét biệt danh này.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html


Ông ngại xuất hiện trên các phương tiện truyền thông



Cohen hiếm khi trả lời phỏng vấn báo chí. Chỉ có một lần hiếm hoi ông trả lời phỏng vấn của Vanity Fair hồi năm 2010. Hình ảnh của ông cũng rất ít xuất hiện trên các phương tiện truyền thông. 
 
Ông có xuất hiện trong một talk show thực hiện từ những năm 1990. 


Năm 1992, ông xuất hiện trong chương trình talk show "Cristina" (nhân vật được mệnh danh là Oprah của Mỹ Latin). Khi đó, Cohen nói về việc ngủ với vợ cũ khi bắt đầu hẹn hò với Alex – người vợ hiện tại. Việc đó kết thúc khi ông kết hôn với Alex. 

Cohen thích sưu tập các tác phẩm nghệ thuật


Cohen vẫn là một người chơi poker xuất sắc


Cohen chơi bài poker từ thời trung học. “Chơi bài poker và giao dịch chứng khoán có những điểm tương đồng. Tôi luôn nghĩ về rủi ro, từ giao dịch chứ không nghĩ về tiền. Poker yếu tố quyết định đến quá trình học cách chấp nhận rủi ro của tôi”. Cohen trả lời phỏng vấn năm 2010. 

Cohen sở hữu một phần nhỏ cổ phần tại New York Mets.

háng 2/2012, ông mua 4% cổ phần của đội bóng chày chơi tại giải Major League với giá 20 triệu USD. Cohen đã lớn lên với những trận bóng của New York Mets. 
Tất nhiên, chúng ta đều biết Cohen là một người rất giàu có 


Theo Forbes, năm 2011, ông nhận mức lương 600 triệu USD. Với tài sản ước tính trị giá 8,8 tỷ USD, ông xếp thứ 40 trong bảng xếp hạng Forbes 400 và thứ 101 trong bảng xếp hạng Forbes Billionaires.

Cohen hiện đang nhận được sự chú ý của công chúng sau scandal liên quan đến giao dịch nội gián. 

Tháng trước, cựu giám đốc quản lý danh mục của SAC là Mathew Martoma bị kết tội đã thực hiện vụ giao dịch nội gián lớn nhất trong lịch sử. Martoma làm việc tại CR Intrinsic Investors, một chi nhánh của SAC. 

Martoma bị buộc tội trục lợi thông tin mật từ một bác sỹ về quá trình thử nghiệm một loại thuốc trước khi các kết quả được công bố.

Trong một buổi hội thảo với các nhà đầu tư, Cohen khẳng định ông tự tin mình đã hành động đúng đắn và phù hợp với luật pháp. Và, cho đến nay Cohen không hề bị buộc tội.

(Theo Trí thức trẻ/Business Insider)
>> 10 nhà đầu tư tài chính xuất sắc mọi thời đại
Share:

Sam Zell - Vũ công bên mồ kẻ khác

Không hề dấu diếm bí quyết đầu cơ, thậm chí lại còn muốn làm cho mọi người hiểu được chuyện đó một cách dễ dàng, vậy mà cho tới nay trong thế giới đầu cơ chỉ có mỗi mình con người này thành công với bí quyết đầu cơ đó. Người đó chính là Sam Zell. 

Sam Zell chỉ chuyên về đầu cơ bất động sản
 
Mỗi nhà đầu cơ có cách thức đầu cơ khác nhau và thế giới đầu cơ gần như không có ranh giới. Bí quyết đầu cơ của không ít nhà đầu cơ trứ danh theo thời gian rồi cũng dần không còn là chuyện lạ lẫm gì nữa đối với công chúng, lại càng không phải vậy đối với cư dân của thế giới đầu cơ. Nhưng nắm được bí quyết là một chuyện, vận dụng nó thành công như chính tác giả của bí quyết thì lại là chuyện khác. Sam Zell được coi là một nhà đầu cơ trứ danh vì chưa ai làm được như ông, theo cách của ông.
 
Năng khiếu bẩm sinh, khát vọng đeo đẳng suốt đời

Với tài sản riêng khoảng 6 tỷ USD, Sam Zell được tạp chí Forbes của Mỹ xếp đứng hạng thứ 52 trong danh sách những người giàu nhất ở nước Mỹ. Số tài sản ấy đủ để làm cho Sam trở thành người nổi tiếng, nhưng để trở thành nhà đầu cơ trứ danh thì bên cạnh việc kiếm được nhiều tiền bằng đầu cơ còn phải có dấu ấn riêng trong thế giới đầu cơ. Và Sam Zell nổi danh trong thế gới đầu cơ bằng cách trở thành “Vũ công bên mồ kẻ khác”. Chính Sam Zell cũng tự nhận mình là như thế. Nhà đầu cơ nào muốn thành công cũng đều phải nhờ cậy vào tri thức và vốn, có phần nhờ may mắn và hậu thuẫn từ thời thế. Nhưng chẳng có nhà đầu cơ nào thành công mà không có đam mê kiếm tiền, đam mê đến mức kiếm tiền trở thành khát vọng cuộc đời và lẽ sống. Ở Sam Zell lại còn có năng khiếu gần như bẩm sinh.

Sam Zell sinh năm 1941 ở Mỹ. Thật ra, ông không phải là người Mỹ thực thụ. Năm 1939, bố mẹ Sam từ Ba Lan di cư sang Mỹ vì họ là người Do Thái và bị chính quyền Đức quốc xã truy sát. Cái tên họ Zell được gia đình này đổi từ Zielonka sang sau khi đến Mỹ. Cuộc di cư này đã đưa Sam đến nhận thức đau đớn: “Đã là người Do Thái thì cả đời luôn dễ bị tổn thương”. Và lối thoát mà Sam đã sớm nhận ra là phải trở nên thật giàu có. Có tiền sẽ có sự bảo vệ chắc chắn nhất, hiệu quả nhất và lâu bền nhất trước mọi mối nguy hiểm gây tổn thương đó. Năm 12 tuổi Sam đã tự lên tàu đi rất xa để mua tạp chí Playboy với giá có 50 cents về chỗ mình ở bán lại với giá 3 USD - cao gấp 6 lần. Năm 1963, Sam Zell tốt nghiệp Trường Đại học Michigan, năm 1966 đạt được học vị Tiến sỹ về luật ở đó. Thời gian sống và học tập ở Mỹ cho tới khi đó đủ để ông đi tới nhận thức rằng, muốn làm giàu nhanh chóng thì phải mạo hiểm và cách làm giàu nhanh nhất nhưng đồng thời cũng nhiều rủi ro nhất là đầu cơ. Thế giới đầu cơ là nơi Sam Zell vừa muốn đến lại vừa phải đến. Năm 28 tuổi, Sam cùng với Robert Lurie thành lập công ty Equity Group Investment.  39 năm sau, Sam bán công ty này cho tập đoàn đầu tư Blackstone với giá 23 tỷ USD.

Có rất nhiều tiền và đã nổi danh, nhưng sự nghiệp kiếm tiền của Sam Zell không dừng lại sau những phi vụ đầu cơ thành công. Thuở ban đầu có thể động lực chỉ là kiếm tiền để trở nên giàu có và được trọng vọng trong xã hội, có được sự bảo vệ trước mọi mối nguy hiểm. Về sau động lực đó có thể là ham muốn chinh phục những đỉnh cao mới bằng những gì đã đạt được, là đi hết mọi con đường có thể đi được trong thế giới đầu cơ. Không ai biết được chính xác vì Sam Zell không hề một lần thổ lộ. Tất cả đều chỉ biết rằng, Sam Zell vẫn kiếm tiền không biết mệt mỏi cả khi sắp sửa bước vào tuổi 70.

Họa người phúc ta 

Khác với đa số các nhà đầu cơ trong thế giới đầu cơ vốn hoặc chuyên về đầu cơ trên thị trường chứng khoán hoặc đầu cơ tất cả những gì có thể đầu cơ được, Sam Zell chỉ chuyên về đầu cơ bất động sản. Và cũng khác với đa số các nhà đầu cơ bất động sản, Sam chỉ đầu cơ vào những bất động sản đã từng rất đắt giá mà hiện đang bị sụt giá thê thảm. Sam làm giàu bằng những gì mà tưởng chẳng còn chút giá trị nào đối với kẻ khác. 

Triết lý đầu cơ của Sam có thể gói gọn trong một câu là mua rẻ về bất động sản và chờ cho tới khi nó tăng giá. Nhà đầu cơ bất động  sản nào chẳng tư duy và hành động như vậy. Nhưng Sam chỉ tập trung vào những bất động sản đã từng rất đắt giá. Con tính của Sam là bất động sản càng đắt giá bao nhiêu thì càng khó bán bấy nhiêu và càng có ít nhà đầu cơ sẵn sàng mua bấy nhiêu, những bất động sản ấy bị mất giá thường lại do sai lầm của chủ sở hữu hoặc sự thay đổi thời thế. Nếu là sai lầm của chủ sở hữu thì lại càng dễ mua - vì họ thường đứng trước nguy cơ phá sản - và chỉ cần khắc phục sai lầm ấy thì bất động sản lại có giá. Nếu nguyên nhân là sự thay đổi thời thế thì chắc chắn sẽ lại đến lúc thời thế thay đổi khiến bất động sản được giá. Cho nên khi người khác sắp “xuống mồ” thì Sam ra tay, khi kẻ khác mắc sai lầm thì Sam hành động. Cái biệt danh “Vũ công bên mồ kẻ khác” xem ra đâu cũng đến nỗi quá đáng. Cả trong chiến lược đầu cơ này cũng thấy Sam rất thận trọng chứ không mạo hiểm, hành động chắc ăn chứ không vội vã, suy tính kỹ càng nhưng không phải thiếu quyết đoán.

Cũng có người cho rằng Sam làm như vậy là đầu cơ trục lợi vào cái họa của kẻ khác. Miệng lưỡi thế gian thật vô cùng vì Sam đâu có gây ra cái họa đó cho kẻ khác mà chỉ nhìn nhận ở cái họa ấy có cơ hội để kinh doanh. Hơn nữa, Sam không phải là con người để cho tình cảm lấn át lý trí. Thế giới đầu cơ là thế giới đầy nghiệt ngã và ganh đua khốc liệt mà theo Sam thì chỉ có những người mạnh mẽ về tính cách mới có thể trụ lại và thành công được. Thế giới đầu cơ đã biến cậu bé bán tạp chí Playboy năm nào thành người giống như cao bồi thực thụ ở miền tây hoang dại của nước Mỹ trong những thế kỷ trước. Sam không dấu diếm điều đó khi nói thẳng: “Trong cách thức tôi kiếm tiền và đánh giá rủi ro không có chỗ cho tình cảm”. Điều đó lý giải tại sao trong suốt thời gian rất dài ông luôn thành công trong cung cách đầu cơ rất đặc biệt của mình.

Sam Zell trở thành nhà đầu cơ bất động sản thuộc diện thành công nhất ở nước Mỹ. Nhưng cả thành tựu đầu cơ đó cũng không đảm bảo cho Sam đầu cơ vào đâu cũng đều thắng ở đó. Gần như tất cả những hoạt động đầu tư và đầu cơ sau này của Sam trên lĩnh vực báo chí, truyền hình và thể thao đều không thành công. Cư dân của thế giới đầu cơ học được từ Sam Zell cả bài học thành công lẫn thất bại. Họ biết rằng những bài học kinh nghiệp của nhà đầu cơ trứ danh này có thể không giúp họ đầu cơ thành công như Sam, nhưng chắc chắn sẽ không thất bại như Sam.

Sam Zell chỉ đầu cơ vào những bất động sản đã từng đắt giá mà sụt giá thê thảm, nhờ đó làm giàu bằng những gì tưởng chắng còn chút giá trị nào.

Share:

Christopher Hohn với chiến lược đầu cơ "sốc" và "sợ"

Trong thế giới đầu cơ hiếm thấy có ai mang thể diện đa dạng như Christopher Hohn. Nhà đầu cơ này nổi tiếng tàn bạo và không khoan nhượng trong việc săn lùng công ty trên thị trường chứng khoán, nhưng đồng thời cũng lại được biết đến qua những khoản tiền ủng hộ nhân đạo khổng lồ. 

Rất hiếm khi xuất hiện trước công chúng và hầu như chẳng khi nào trả lời phỏng vấn, Christopher Hohn hành tung như thể tàng hình, vậy mà vẫn khiến giới chủ doanh nghiệp phải khiếp hãi. Chiến lược đầu cơ “sốc và sợ” của Christopher Hohn độc nhất vô nhị cho tới nay không chỉ bởi bản chất nội dung, mà còn bởi thực tế ngoài nhà đầu cơ này ra chưa thấy ai thực hiện thành công được cả. 

Nhà đầu cơ trứ danh này còn được gắn cho biệt danh “Ảo thuật gia” trên thị trường chứng tài chính. Hai phi vụ đình đám Christopher Hohn năm nay 40 tuổi và theo đánh giá của tạp chí Forbes có 120 triệu USD trong tài khoản riêng, nhưng lại quản lý một quỹ đầu tư có trị giá lên tới 10 tỷ USD. 

Những con số và ước liệu đó đủ để Hohn được liệt vào diện “tuổi trẻ tài cao” trong thế giới đầu cơ. Trong thế giới ấy, đương nhiên ai kiếm được nhiều tiền đều được coi là trứ danh bởi phải giỏi giang như thế nào thì mới kiếm được nhiều tiền đến như vậy bằng đầu cơ. Nhưng nhà đầu cơ trứ danh không nhất thiết phải kiếm được nhiều tiền, mà có thể thành danh bằng những chiến lược và thủ thuật đầu cơ, bằng bản lĩnh và tính cách, bằng những bài học thành công và thất bại, bằng những phi vụ đầu cơ thắng đậm và thua nhiều để đời. Christopher Hohn được vinh danh trong thế giới đầu cơ nhờ hai phi vụ đầu cơ nhằm vào ngân hàng ABM Amro của Hà Lan và vào Sở Giao dịch chứng khoán Frankfurt/M. của Đức. Những mục tiêu tấn công này của Hohn đâu có phải thuộc loại tầm thường. 

Ngân hàng ABN Amro có từ 185 năm nay, còn Sở Giao dịch chứng khoán Frankfurt/M. cũng có tuổi đời lên tới 167 năm. Cả hai đều có vị thế chính trị và ảnh hưởng kinh tế hàng đầu tại nước mình, đều được coi là những pháo đài bất khả xâm phạm và những chiến hạm không thể bị đánh chìm. 

Chiến lược đầu cơ “sốc và sợ” của Christopher Hohn độc nhất vô nhị cho tới nay không chỉ bởi bản chất nội dung, mà còn bởi thực tế ngoài nhà đầu cơ này ra chưa thấy ai thực hiện thành công được cả Chiến lược đầu cơ của Hohn nhằm vào hai tượng đài nói trên được sao chép về ý tưởng và tác động tâm lý từ chiến lược “Gây sốc và làm cho sợ hãi” của quân đội Mỹ trong cuộc chiến tranh Iraq hồi đầu thập kỷ này. 

Bản chất của nó rất đơn giản: Tạo hiệu ứng gây sốc khiến dư luận nghi ngờ đối với ban lãnh đạo tập đoàn và từ đó làm cho ban lãnh đạo tập đoàn phải lo sợ mà hành động theo hướng của nhà đầu cơ. Hohn là nhà đầu cơ đầu tiên không đầu cơ vào tình huống, kể cả tình huống có sẵn cũng như dự báo sẽ xảy ra trong tương lai, mà tạo tình huống để đầu cơ, đầu cơ vào hệ quả của việc bắt đối tác hành động theo ý mình. 

Cách làm của Hohn cũng rất đơn giản. Bước đầu tiên là tìm cách mua về một vài phần trăm cổ phần của ABM Amro và Sở Giao dịch chứng khoán Frankfurt/M. sao cho không ai để ý. Bước thứ hai là tìm cách quy tập được xung quanh mình một số cổ đông khác của những “nạn nhân” này. Bước thứ ba là nhiễu thông tin và kích động cổ đông nổi loạn, thường thông qua những kiến nghị tập thể hoặc yêu cầu triệu tập đại hội cổ đông bất thường nếu tập hợp lực lượng đủ mức, đưa ra những đề nghị như thay đổi nhân sự ban lãnh đạo, chia tách tập đoàn hoặc ít nhất của đòi chia cổ tức nhiều hơn. Những bước đi đó đều đánh vào uy danh của tập đoàn, khiến tập đoàn phải bận rộn với chính mình và tạo cảm nhận bị rủi ro trong con mắt của cổ đông và nhà đầu tư. 

Vì thế, giá cổ phiếu của tập đoàn sẽ giảm mạnh. Khi đó, nhà đầu cơ sẽ mua vào. Cho dù về sau cuộc nổi loạn của cổ đông do Hohn xúi giục có thành công hay thất bại thì rồi tập đoàn cũng trở lại thời yên bình, giá cổ phiếu lại tăng hoặc cổ tức được chia cũng cao hơn. Nhà đầu cơ khi đó chỉ việc bán cổ phiếu đã mua đi và kiếm lời, tận hưởng thành công và tìm kiếm con mồi tiếp theo. Trong trường hợp ngân hàng ABM Amro, Hohn phát hiện ra những yếu kém trong quản lý và điều hành, sai lầm trong quyết định chiến lược kinh doanh và bế tắc về giải pháp. 

Vì thế, chỉ với 3% cổ phiếu của ngân hàng này mà Hohn đã thành công với yêu cầu đòi sa thải Giám đốc ABM Amro Rijkman Groenink. Ngân hàng này không đến nỗi bị xé lẻ, nhưng rồi vẫn phải nhờ cậy vào cái ô của cả một tổ hợp ngân hàng ở Scottland để thoát nạn. Khi giá cổ phiếu của ABM Amro tăng từ 25 Euro lên 37,81 Euro thì cũng là lúc Hohn thắng đậm. Đó là năm 2006. Trường hợp Sở Giao dịch chứng khoán Frankfurt/M. lại hơi khác. Hohn cũng chỉ sở hữu có vài phần trăm cổ phần của Sở này. Năm 2005, Chủ tịch Sở Giao dịch chứng khoán Frankfurt/M. Werner Seifert có ý định thôn tính Sở giao dịch chứng khoán London. Hohn nhìn nhận ở đó có cơ hội lớn để đầu cơ. 

Nếu nổi loạn thành công thì ban đầu cổ phiếu của Sở Giao dịch chứng khoán Frankfurt/M. sẽ giảm và của London sẽ tăng vì chưa ai dám chắc kết cục sẽ như thế nào. Nhưng nếu thành công trong việc làm phá sản kế hoạch của ông Seifert thì giá cổ phiếu của Sở giao dịch chứng khoán Frankfurt/M. sẽ lại tăng và của London sẽ giảm. 

Để đảm bảo cho việc giá giảm rồi chắc chắn sẽ tăng thì phải tìm cách làm cho ông Seifert bị mất chức và tăng tỷ lệ chia cổ tức. Hohn tập hợp được đủ cổ đông của Sở Giao dịch chứng khoán Frankfurt/M. đến mức có thể yêu cầu triệu tập đại hội cổ đông bất thường. Hohn thuyết phục những cổ đông này tin vào chiến lược đầu cơ của mình, quả quyết giá cổ phiếu sẽ tăng hơn gấp đôi. Kết cục cuối cùng đúng như tính toán của Hohn. 

Ông Seifert buộc phải khăn gói ra đi với lời buộc tội đã có những quyết định chiến lược sai lầm, Frankfurt/M. không thâu tóm được London và cổ tức được chia ra tăng thêm. Giá cổ phiếu tăng không đến mức gấp đôi như Hohn hứa hẹn, nhưng cũng gần như thế. Cư dân của thế giới đầu cơ ngỡ ngàng khi có thêm những bài học mới trong sách giáo khoa đầu cơ. Tình ngay lý gian Hohn khiến giới chủ tập đoàn sợ hãi vì thế. Họ sống trong cảm giác luôn bị phục kích, lúc nào cũng có thể bị tấn công. Cách đầu cơ của Hohn rất hiệu quả, không cần nhiều vốn mà lời lãi lại cao. Hohn bị coi là lá mặt lá trái vì khét tiếng như vậy trong cuộc săn lùng tập đoàn, nhưng lại luôn muốn tỏ ra là nhà từ thiện vĩ đại. Hohn sinh ra ở Jamaica, cha là thợ cơ khí ôtô. 

Gia đình Hohn di cư sang Anh. Sau thi theo học ở Trường Đại học Southhampton, Hohn kiếm được học bổng để theo học tại trường kinh doanh Havard nổi tiếng của Mỹ. Giữa thập kỷ 90 Hohn trở về nước Anh và làm cho Quỹ đầu tư Perry Capital. Năm 2003 Hohn thành lập quỹ đầu tư riêng với tên gọi The Children’s Investment Fund (TCI) (Tạm dịch: Quỹ đầu tư cho trẻ em). Thật khôi hài khi Hohn núp dưới danh nghĩa này để đầu cơ. Về sau, dư luận cũng viện dẫn việc đó để chứng minh Hohn bất chấp thủ đoạn trong đầu cơ. 

Người vợ của Hohn quản lý một tổ chức cứu trợ nhân đạo tên là The Children’s Investment Fund Foundation. Một phần ba thu nhập của Hohn từ công ty quản lý quỹ đầu tư được chuyển cho tổ chức này để giúp trẻ em bị mắc AIDS trên thế giới. Hohn vì thế còn bị phê trách là sử dụng vốn của người ngoài để đánh bóng cho tên tuổi của chính mình và vợ mình. Thế giới đầu cơ khâm phục và nể trọng Hohn, nhưng trong con mắt của thế giới kinh doanh bên ngoài thì Hohn bị coi là đạo đức giả, vì sợ và lo, vì ganh ghét và tị hiềm. Cũng phải thôi, những kẻ đạo đức giả đâu có được yêu quý và ngưỡng mộ bao giờ.

Share:

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2013

Những chiến lược hiểu rõ ham muốn khách hàng của 3 đại gia UNIQLO, ZARA và H&M

UNIQLO, ZARA, H&M là 3 hãng thời trang S.P.A nổi tiếng thế giới.
S.P.A (Specialty retailer of Private label Apparel) là công ty sở hữu thương hiệu tiến hành tất cả các khâu từ hoạch định, sản xuất, phân phối qua cửa hàng bán lẻ

 
UNIQLO – thời trang mang tính dài hạn chứ không theo xu hướng

Nói cho dễ hiểu tức là chú trọng đến phong cách chứ không phải xu hướng. Mỗi người luôn theo đuổi một phong cách nhất định trong một thời gian dài, có người chú trọng đến sự giản dị, có người thích tính hiện đại,..Dễ thấy một điều, phong cách sẽ không nhanh chóng mất đi trong khi xu hướng thì thay đổi liên tục.

Thay vì chạy theo những xu hướng mới nhất, UNIQLO lấy phong cách làm chuẩn. Chú trọng đến công nghệ và đầu tư một tầm nhìn mang dài hạn vì tin tưởng rằng khách hàng họ nhắm tới là những người quan tâm đến chất lượng và giá trị hơn là những thiết kế hợp thời. Để khai thác thị trường theo chiến lược này, UNIQLO dành công sức, thời gian để kiểm tra nguyên liệu từ những nhà cung cấp dài hạn và thiết kế (thiết kế này theo phong cách dài hạn chứ không phải dựa vào xu hướng).

Câu nói của CEO – Tadashi Yanai (người giàu nhất nước Nhật) nêu rõ được chiến lược này “In general, the apparel industry isn’t about continual process improvement or making the perfect piece of denim, it’s about chasing trends”.

Chiến lược đã giúp UNIQLO thành công lớn ở Mỹ như thế nào?

Ngẫm lại thấy chiến lược của UNIQLO giống như chiến lược trong ngành công nghệ xe hơi. Khoảng giữa 1986 và 1930, có hơn 1800 nhà sản xuất xe hơi ở nước Mỹ. Vì sao có quá nhiều đến vậy? Bởi vì lúc đó, hầu hết các nhà sản xuất xe hơi đều muốn tạo ra chiếc xe hơi phù hợp với mỗi cá thể nên sự xuất hiện số lượng lớn nhà sản xuất như vậy cũng không có gì đáng ngờ. 

Nhưng đến đầu năm 1940, phần lớn các nhà sản xuất xe hơi buộc phải rời khỏi ngành và hiện nay, có thể thấy chỉ còn một số nhà sản xuất xe hơi chú trọng đến phong cách chung của nhiều người và chất lượng mới tồn tại được.

Ngành thời trang ở Mỹ hiện tại khá giống thị trường xe hơi Mỹ những năm 1986 và 1930. Có quá nhiều nhà bán lẻ thời trang, quá nhiều thương hiệu và nhà thiết kế, quá nhiều cửa hàng giảm giá với nhiều chương trình giảm giá điên cuồng. Tadashi Yanai đã học được xu hướng này từ ngành công nghiệp xe hơi Mỹ. 

Ông luôn tìm kiếm những phong cách không nhanh chóng mất đi, phân loại chúng và thiết lập chuỗi cung ứng để đưa tất cả đến với khách hàng. UNIQLO – MADE FOR ALL là vì thế. Hơn cả, ông hướng khách hàng đến việc cập nhật tủ quần áo của họ bởi chính những phong cách mà UNIQLO mang đến chứ không phải tủ quần áo với hàng loạt các xu hướng không theo thể thống hay phong cách nào cả. Và kết quả, UNIQLO đã thành công vang dội khi vượt qua cả GAP và H&M (cũng là thương hiệu S.P.A) taị Mỹ.

ZARA – Phản ứng với những xu hướng của khách hàng

Có thể thấy chiến lược của ZARA hoàn toàn trái ngược với UNIQLO. Một bên chú trọng đến phong cách mang tính dài hạn chứ không chạy theo xu hướng, một bên luôn đuổi bám theo xu hướng để phục vụ khách hàng. Tuy nhiên, ZARA cũng thành công ngang ngửa với UNIQLO và hơn cả, có một số lượng cửa hàng ở khá nhiều nước. 

Để đạt được thành công này, ZARA nhất thiết phải xây dựng một chuỗi cung ứng phản ứng nhanh chóng và tiếp thu kịp thời những xu hướng của thế giới. Hãy tưởng tượng, ZARA đưa ra sản phẩm mới 2 lần/1 tuần với hơn 1600 cửa hàng trên toàn thế giới. Có nghĩa là 1 năm ZARA cho ra 10,000 thiết kế mới. Đáng kinh ngạc hơn, chỉ có 10 đến 15 ngày là ZARA sẽ xuất một lô hàng mới (tính từ lúc design đến lúc bán sản phẩm). Vậy nhiệm vụ quan trọng nhất của ZARA là đánh giá xu hướng và lập tức đuổi bám.

Có thể khó tưởng tượng được ZARA làm được điều này bằng cách nào đúng không? Nhanh chóng và linh động, đó là câu trả lời.
- ZARA xây dựng 14 nhà máy tự động hóa ở Tây Ban Nha và thầu lại cho các nhà sản xuất ở châu Á. Những nhà máy được ví như những con robot, cắt, nhuộm, ….ủi, thành phẩm. Không hề giống với chiến lược của UNIQLO nhưng ZARA có điểm chung là chiếc lược của cả 2 đều được học hỏi từ ngành sản xuất ô tô. ZARA học hỏi và tận dụng nguyên tắc trong ngành sản xuất ô tô, đó là “just in time” – tiên phong trong chiến lược này chính là Toyota Motor.

- ZARA cũng tạo một mạng lưới nhà đồng hành là hơn 300 shops nhỏ để thực hiện công đoạn cuối
Thực sự ZARA đã thành công nhờ chiến lược này, vì sự thật là ZARA đã trở thành nhà bán lẻ thời trang lớn nhất thế giới với tốc độ tăng trưởng 2011 là 10% và đạt 19.15 tỷ USD.

Thêm một điều khiến chúng ta ngưỡng mộ: Thực tế, các công ty sản xuất của ZARA ở thì sản xuất ở châu Á và nhập khẩu lại để hoàn thành sản phẩm và phân phối đến người tiêu dùng. Công đoạn nào cũng cần phải nhanh chóng và chuẩn xác nhằm 1 tuần 2 lần ZARA đều tung ra thiết kế mới

 H&M – Cầu nối giữa tính dài hạn và xu hướng

Chiến lược của H&M nằm lơ lửng giữa UNIQLO và ZARA  Không xác định theo đổi phong cách dài hạn, cũng không đủ nhanh để theo xu hướng và tung sản phẩm 2 lần/tuần. H&M chọn cách cho ra mắt 2 bộ sưu tập chính mỗi năm vào mùa xuân và mùa hè. Mỗi mua, H&M còn sáng tạo thêm những bộ sưu tập phụ để cải thiện hàng kho. Bộ sưu tập chính là những sản phẩm có vòng đời là nửa năm còn những bộ sưu tập phụ thì vòng đời ngắn hơn.

Điều gì tạo thuận lợi cho H&M phản ứng nhanh chóng với thị trường? Đó là hệ thống 20 trong số 30 nhà máy đều đặt tại gần nguồn cung. H&M sử dụng sự kết hợp dọc trong hệ thống phân phối sản phẩm. Các thiết kế, bộ sưu tập được gần 150 nhà thiết kế và 100 người mua tạo nên. H&M outsource sản xuất với hệ thống 800 nhà cung ứng, 60% ở châu Á, 40% của châu Âu.

Thành công của H&M không thể kể đến đó là H&M cũng có hệ thống cơ sở vật chất cao cấp, hiện đại. Mỗi cửa hàng được kết nối với hệ thống hành chính, vận tải và kho hàng H&M trung tâm.

Lối đi riêng về chiến lược của 3nhà bán lẻ thời trang S.P.A vang danh UNIQLO, ZARA và H&M khiến nhiều người thắc mắc vậy giữa 3 nhà bán lẻ nhắc đến này có điểm gì chung? Đó là cả 3 đều hiểu rõ khách hàng cần gì, muốn gì và tốn không ít thời gian để tìm hiểu vấn đề này. Với UNIQLO là cam kết về chất lượng, chú trọng đến phong cách. Với ZARA là thỏa mãn xu hướng tiêu dùng của người tiêu dùng. Và H&M – nghiên cứu và dự đoán xu hướng trung hạn.

 “Trong môi trường bán lẻ thời trang cạnh tranh quyết liệt trên toàn thế giới, không biết cách tiếp cận như thế nào nhưng điều quan trọng nhất vẫn là biết khách hàng nghĩ gì, muốn gì trước khi tạo ra sản phẩm” – đúng cho cả 3 UNIQLO, ZARA và H&M.

Đây là bản tổng hợp so sánh một số tiêu chí của UNIQLO, ZARA và H&M. Hai trong ba thương hiêu xem thị trường châu Á là thị trường chiến lược, đó là UNIQLO, ZARA. Hi vọng sẽ sớm có 2 thương hiệu này ở Việt Nam.

Share:

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?

Follow by Email