Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Cốm Mễ Trì: Lưu giữ hương vị ẩm thực Hà thành

Mỗi độ thu về làng cốm Mễ Trì lại thoang thoảng thơm nồng mùi cốm mới. Thương hiệu cốm nơi đây ít ai nghe danh bởi sự “lấn át” của cốm làng Vòng, nhưng cốm đã gắn với bao đời người dân Mễ Trì.


Trong tiết trời se lạnh của mùa thu Hà Nội, bác Thi (78 tuổi, Hội trưởng hội người cao tuổi thôn Hạ, Mễ Trì) khẽ nhúm vài hạt cốm, đưa lên miệng rồi kể rằng: “Cách đây gần 200 năm, nghề cốm đã trở thành nghề của làng rồi. Chúng tôi là con cháu đời sau, kế nghiệp các tiền nhân để lại.”
 

 Đã có thời, nhiều người ở Mễ Trì sống nhờ vào cốm mỗi độ thu về. Nhưng nay, cái nghề truyền thống ấy đang đứng trước những mai một. Nhăn trán, bác Thi buồn bã bảo rằng, lớp cao tuổi trong làng sợ vắng đi một nét văn hóa ẩm thực của đất Hà Thành.  

Ông Đỗ Danh Lỗ trưởng thôn của Mễ Trì Hạ cho hay, hiện trong làng chỉ còn khoảng 30 hộ còn kế tục nghề làm cốm. Nay, ai gắn bó với cốm phải là người tâm huyết lắm, bởi làm cốm giờ không cho thu nhập bằng các nghề khác.  

Rồi ông bảo, làm cốm vất vả lắm. Người ta phải dậy từ lúc 3 giờ sáng để bắt đầu làm cho kịp mẻ phiên chợ sáng.  

Này nhé, sau khi đã có nguyên liệu là thóc non đãi sạch, người ta sẽ rang trong chảo to. Khi hạt thóc chuyển từ màu xanh sang trắng, có mùi thơm là chín. Sau đó, dùng máy xát cho cốm sạch vỏ rồi giã cho mềm, sàng vài lần cho sạch trước khi cho vào lá sen để đem đi bán.  

Anh Bền (xóm 3 thôn Thượng, Mễ Trì) kể, trước đây sẵn lúa nhà mình gặt về làm lấy, còn giờ phải đi mua tận Vĩnh Phúc, thậm chí cả ở Bắc Ninh… Để có một mẻ cốm ngon đòi hỏi người thợ phải thực sự khéo tay và tinh tế.   

Đã trải qua ba đời gắn bó với nghề cốm, anh Bền thấu hiểu nỗi vất vả để có những mẻ cốm thơm ngon. Mỗi mùa cốm về cả nhà anh lại tập trung toàn bộ nhân lực để kịp làm hàng.  

“Trước đây cả làng này đều sống bằng nghề làm cốm, nhưng nay đời sống khá lên, họ bỏ nghề hết, ruộng đất thì bán làm nhà, cho thuê trọ nên chẳng còn mấy ai ‘bám’ nghề,” anh nói.  

Quệt vệt mồ hôi trên trán, tay vẫn không ngừng sàng sảy, anh Khiêm (xóm 2, Thôn Hạ)  bảo đây là nghề gia truyền nên không thể bỏ được. “Bố tôi trước lúc nhắm mắt xuôi tay còn dặn dò ‘cố gắng với nghề, chăm chỉ thì không lo túng thiếu đâu.’ Âu cũng là cái duyên, đâu phải sinh ra ai cũng được truyền nghề. Tuy vất vả, nhưng giờ ít người làm nên giá cốm cũng cao, ở mức 150-180.000 đồng/kg,” anh nói.  

Cho dù có thu nhập, nhưng nhiều người giữ lửa cốm ở Mễ Trì vẫn buồn. Phần vì giờ làng vắng tiếng chày giã, phần vì thương hiệu cốm Mễ Trì gần như rất ít người biết đến.  

Ông Lỗ bảo, để khắc phục điều đáng buồn này, Đội tuyển SIFE (Trường đại học Kinh tế Quốc dân) phối hợp với VTC10, chính quyền và nhân dân xã Mễ Trì sẽ tổ chức chương trình “Ngày hội văn hoá làng cốm Mễ Trì năm 2012” vào ngày 6/10.  

Tại ngày hội, các sản phẩm chế biến từ cốm (bánh cốm, chè cốm, xôi cốm) và một số đặc sản khác của đất Hà Thành (bún thang, bánh cuốn,…) cũng được giới thiệu tới người dân. Tại đây, khách thăm quan cũng sẽ được thưởng thức một hình thức sinh hoạt văn hóa độc đáo của dân làng cốm.  

Dịp chày giã cốm vang lên khắp thôn khi ánh chiều tà dần phủ buông, khói bếp nghi ngút bốc lên từng mái ngói hứa hẹn những mẻ cốm thơm ngát. Tin rằng, với sự nỗ lực của người dân Mễ Trì, làng cốm sẽ ngày càng ghi dấu ấn, trở thành phong vị không thể thiếu của đất Hà Thành./.

Vietnam +
Share:

Cốm Mễ Trì - Sắc thu Hà Nội

Đến Mễ Trì (Từ Liêm, Hà Nội) những ngày cuối tháng 9, chỉ cần đi tới đầu làng đã thấy hương cốm tỏa ra thơm phức, ngào ngạt. 

Trước đây, nhắc tới cốm Hà Nội là nhiều người nghĩ ngay tới làng Vòng (Cầu Giấy, Hà Nội) cực kỳ nổi tiếng. Nhưng nay, những nhà làm cốm truyền thống tại làng Vòng chỉ còn đếm trên đầu ngón tay.

Ngay cả nhiều người làng Vòng vẫn ngồi bán cốm trên vỉa hè bên đường Xuân Thủy (Cầu Giấy, Hà Nội) cũng “thú nhận” rằng, làng Vòng không còn mấy ai giữ nghề. Bởi vậy bây giờ họ thường qua Mễ Trì để lấy hàng buôn.

Cốm Mễ Trì không vang danh như cốm làng Vòng. Có lẽ vì thế mà giới buôn cốm lâu năm vẫn dùng cách “phù phép” cho cốm Mễ Trì “đội lốt” cốm làng Vòng, để bán đắt hàng và đẩy giá lên cao hơn. 

Nặng lòng với cốm 

7 giờ sáng, tôi tới thăm lò cốm của vợ chồng anh Thu – chị Tâm trong thôn Mễ Trì Thượng (làng Mễ Trì, Từ Liêm, Hà Nội), đúng lúc anh Thu vừa chở những bao thóc nếp cái hoa vàng từ Đông Anh về.
 Thóc nếp cái hoa vàng còn xanh, đang thời ngậm sữa 

Vào mùa cốm, một ngày làm việc của đôi vợ chồng trẻ này thường bắt đầu từ 3 giờ sáng. Khi anh Thu dậy chuẩn bị cho những chuyến đi thu mua lúa nếp ở tận Sơn Tây, Đông Anh, thậm chí nhiều huyện ở tận Phú Thọ… thì chị Tâm cũng bắt tay vào giã những mẻ cốm đầu tiên để kịp giao buôn cho những phiên chợ cốm sớm.

Lò cốm của gia đình anh Thu là một trong khoảng 23 lò cốm ở thôn Mễ Trì Thượng và khoảng 35 lò cốm ở thôn Mễ Trì Hạ, vẫn giữ nghề làm cốm ông cha để lại. Anh Tâm chia sẻ: “Làm cốm chỉ là nghề thời vụ, một năm hai lần vào vụ mùa và vụ chiêm. Thức khuya dậy sớm cũng nhọc nhằn lắm. Nhưng thôi, lò cốm còn đấy lên cứ cố gắng duy trì, lấy công làm lãi”.

 
Nhóm lửa rang mẻ thóc đầu tiên trong ngày 

Cách nhà anh Tâm vài chục mét là lò cốm của gia đình bác Khôi. Năm nay, cả hai vợ chồng bác Khôi đều đã bước qua tuổi 70 nhưng vẫn còn rất nặng lòng với cốm. Mỗi vụ lúa, gia đình bác đều thuê cấy vài sào ruộng nếp cái hoa vàng, để lấy thóc làm cốm. Đến mùa gặt, bác cũng thuê người làm, rồi đem xe máy ra cứ túc tắc chở dần dăm ba bó lúa về cho bác gái ở nhà tách thóc, bó rơm.

Con cái bác Khôi đều ra ngoài làm ăn, không ai theo nghề bố mẹ, thành thử việc làm cốm tới giờ vẫn do 2 bác quán xuyến. Những ngày thu về, mùa cốm về, khoảng sân rộng của nhà bác Khôi trở thành nơi hội họp của những bà cụ già trong làng. Các cụ rảnh rỗi sang giúp vợ chồng bác tách thóc, vừa được dịp đưa đẩy những câu chuyện vui tuổi già, vừa để xin chút rơm về làm chổi.

Tôi mạo muội hỏi tại sao ở tuổi của vợ chồng bác đã có nhà cửa khang trang, con cháu thành đạt mà không nghỉ ngơi tuổi già lại nhọc công với nghề làm cốm một sớm hai khuya này.

Bác Khôi mỉm cười: “Hồi tôi còn nhỏ, nghề cốm trong làng thịnh lắm. Nhà nhà, người người giã cốm. Nhưng giờ cả làng chỉ còn lác đác vài nhà giữ nghề. Tôi yêu nghề, muốn truyền nghề cho con cháu, nhưng chưa đứa nào chịu. Sức mình còn làm được thì sẽ làm. Tôi vẫn hy vọng rồi lũ trẻ sẽ gìn giữ được cái nghề này”.

 

Vợ bác Khôi tỉ mẩn ngồi xếp lúa, tách hạt và lấy rơm làm chổi


Những hạt thóc nếp mẩy, đều tăm tắp


Các cụ già trong làng tới phụ gia đình bác Khôi

 Cụ Tuyên, 83 tuổi, cảm thấy rất vui khi sang nhà bác Khôi làm cốm bởi gia đình cụ không còn giữ nghề 

9 giờ sáng, cả ngõ nhỏ dẫn vào nhà anh Thu và bác Khôi đã thơm phưng phức mùi cốm. Đó chính là lúc mẻ thóc rang đầu tiên tại lò cốm của anh Thu bắt đầu se hạt. Thời các cụ ngày xưa, chỉ rang tay được năm bảy cân thóc trong một cái chảo nhỏ, đun bằng rơm nên làm được một cân cốm mất đến cả nửa ngày ròng.


Thóc nếp xanh chuyển sang màu vàng xám


Bí quyết rang thóc của anh Thu đó là nếu như di nát hạt thóc mà không bị dính thì thóc đã chín 

Khi người dân làng Mễ Trì chuyển sang cơ giới hóa nghề làm cốm, quá trình sản xuất nhanh hơn và bớt vất vả hơn. Tuy nhiên, máy móc không thể thay thế hoàn toàn cho tâm sức của người làm nghề. 

  
Thóc rang để nguội chờ đem đi xay tách vỏ trấu




Không chỉ rang thóc, mà xay thóc…


...giã cốm đều được làm bằng máy 

Nếu không tinh ý và nắm chắc kỹ thuật làm, thì ngay từ khâu rang thóc bằng máy cũng rất dễ để quá lửa, thóc quá chín, thậm chí có mùi khét. Cốm là món ăn hương hoa nên rất chú trọng hương và sắc. Làm việc mà không để tâm thì có thể đi tong cả mẻ cốm”, anh Thu quệt giọt mồ hôi trên trán, hồ hởi nói. 

Nghề cốm lao đao 

Vừa nhanh tay thăn thoắt sàng sảy mẻ cốm đã giã xong lượt đầu, chị Tâm - vợ anh Thu - vừa tươi cười trò chuyện. Chị nói: “Đôi khi cũng thấy chán làm lắm, nhưng vợ chồng lại động viên nhau. Dù sao thời buổi khó khăn, có thêm đồng mắm đồng muối nuôi con cũng đâu phải chuyện dễ dàng. Nhọc lắm. Làm từ 3 giờ sáng đến giờ. Luôn tay luôn chân mà chẳng bao giờ hết việc”.


Khi cốm giã xong, sàng sảy cốm cho bay hết vỏ trấu và đầu mạt


Người ta thường lọc lấy lớp cốm non bên trên ngon, dẻo nhất bán với giá cao hơn 

Cũng theo chị Thu, từ sau khi xảy ra vụ việc một vài lò cốm ở làng Vòng bị phát hiện dùng chất nhuộm cho cốm xanh bắt mắt, người tiêu dùng dường như có phần e dè hơn với loại đặc sản của mùa thu Hà thành này. “Tôi còn nhớ tháng 11 năm ngoái, cả làng lao đao vì không bán được cốm. Gần một năm rồi, nhưng người ta hình như vẫn tẩy chay cốm. Ngày xưa cốm làm ra bán được 10 phần, giờ chỉ bán được 2-3 phần thôi”, chị Thu than thở.

Mẻ cốm vừa làm xong, cực kỳ dẻo và thơm ngạt ngào 

Quả thực, rất nhiều người dân trong làng Mễ Trì tới giờ vẫn còn bất bình vì vụ việc “con sâu làm rầu nồi canh”, chỉ vì một vài lò sản xuất để lợi nhuận làm mờ mắt, mà phát sinh những thông tin “cốm có chất gây ung thư” gây hoang mang trong dư luận.


Những gánh hàng cốm trên đường – một nét đặc trưng của mùa thu Hà Nội 

Bác Khôi bày tỏ: “Ngày xưa, thời các cụ thường lấy lá lúa giã ra làm nước xanh, hồ vào với cốm cho cốm thêm xanh. Nhưng giờ sản xuất với quy mô lớn, không còn nhiều nhà làm theo bí quyết đó nữa. Riêng nhà tôi vẫn làm cốm mộc, tức là giữ nguyên sắc cốm như ban đầu. Mặc dù người mua hàng có thể nhần lẫn, chê bai rằng đó là cốm già, hay cốm cũ. Mình làm nghề, giữ nghề với cái tâm sáng là điều vô cùng quan trọng”.
 Tri Thức Trẻ
Share:

Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013

Cổ phiếu là gì?

Mặc dù thị trường thế giới có nhiều biến động, nhưng lịch sử đã chứng minh đầu tư cổ phiếu vẫn cho một nguồn thu nhập ổn định về dài hạn.

 Click vào để xem hình lớn
 Theo Trí thức trẻ
>> Mở tài khoản chứng khoán - Tư vấn đầu tư chứng khoán - Ủy thác đầu tư
Share:

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

Lịch sử ngành ngân hàng thế giới (P2): Ngân hàng cho các Hoàng đế châu Âu

Quyền lực của xứ Florence (Italy) còn được củng có bởi những khoản nợ lớn mà các chủ ngân hàng ở đây đang nắm giữ. Con nợ, không ai xa lạ, chính là các vị Hoàng đế uy quyền bậc nhất châu Âu.

Tôn giáo và ngân hàng: Thế kỷ 12 và 13

Phần lớn các tôn giáo có nguồn gốc tại vùng Cận Đông không cản trở hành vi cho vay nặng lãi. Các xã hội này tin rằng những thực thể vô tri giác có đời sống giống như cây cỏ và động vật, và do đó, cũng có khả năng tự tái tạo.

Tại các vùng châu thổ lưỡng hà (Mesopotamia), vùng đất khởi thủy của đạo Do Thái Hitties, vùng Canaan và Ai Cập, việc tính lãi vay được coi là hợp pháp và triều đình thường đặt ra một mức lãi suất cố định. Chỉ có một sự khác biệt trong đạo lý của người Do Thái. Trong phần cuối của kinh Hebrew, người Do Thái không được tính lãi trong các khoản vay với người Do Thái. Lãi suất chỉ được áp dụng trong giao dịch với những kẻ vô thần hoặc không thuộc Do Thái giáo.

Người theo đạo Cơ đốc không được phép cho vay nặng lãi. Và đó là cơ hội cho các nhà ngân hàng thuộc tôn giáo khác. Khi cuộc Thập tự chinh bắt đầu đầu, các vương triều châu Âu thịnh vượng cần các hoạt động tài chính. Người Do Thái, xuất hiện ở hầu khắp các lĩnh vực và nghề nghiệp, đáp ứng nhu cầu này. Nhưng sự thành công của họ, sự hiện hiện đông đảo những người cùng tôn giáo Do Thái mang lại nhiều nguy hiểm cho chính họ.

Một nhóm khác cũng nổi lên trong thời kỳ này là các Hiệp sĩ thánh chiến (Knights Templar), những người sau vài năm đã trở thành các nhà ngân hàng hùng mạnh ở khắp châu Âu và Trung Đông. Cũng giống như người Do Thái, các Hiệp sĩ có những nghi lễ tôn giáo riêng và dễ dàng trở thành nạn nhân của lời đồn tai tiếng, ngờ vực và ruồng bố.

Việc kinh doanh ngân hàng mang lại nhiều lợi nhuận dần được chuyển sang tay “những người anh em” có nguồn gốc Cơ đốc giáo, được biết tới đầu tiên là những người Lombards. Lombard, tiếng Latinh viết là Langobardi, còn được gọi biết tới với tên Langobards hay Longobards, là nhóm người có nguồn gốc chủng tộc German, đến từ phía bắc châu Âu và định cư tại vùng lưu vực sông Danube. Tới năm 568, dưới sự chỉ huy của vua Alboin tiến vào nước Italia và lập nên Vương triều riêng, tồn tại tới năm 774.

Hậu duệ của người Lombards, các thương nhân tại Genoa, Milan, Venice và Florence là những người đầu tiên lập nên hệ thống ngân hàng hiện đại và đưa và thực hành các nghiệp vụ quan trọng.

Ngân hàng cho các Hoàng đế châu Âu: Thế kỷ 13 và 14

Trong suốt thế kỷ 13, các nhà ngân hàng ở bắc Italy, được biết tới tên gọi chung ”những người Lombards”, dần thay thế vai trò của người Do Thái trong hoạt động truyền thống: cung cấp tiền bạc cho những người giàu có và quyền lực, các hoàng gia châu Âu.

Kỹ năng kinh doanh của ngân hàng được phát triển với phát kiến về nghiệp vụ ghi sổ kép và cách thức bù trừ nghĩa vụ tín dụng của khách hàng trên ghi chép sổ sách giữa các ngân hàng trong hệ thống, vốn được các ngân hàng ở Genoa áp dụng từ thế kỷ 12.

Cách thức kế toán sáng tạo này giúp họp tránh được “tội lỗi” cho vay nặng lãi được qui định trong giáo lý Cơ đốc. Lợi nhuận của khoản vay được ghi trong các tài khoản dưới dạng quà tặng tự nguyện của người vay hoặc phần thưởng cho những rủi ro mà nhà ngân hàng đã trải qua. Hẳn nhiên, những món quà và phần thưởng của các hoàng tộc đứng đầu châu Âu không bao giờ có giá trị nhỏ.

Các ngân hàng tại Siena và Lucca, Milan và Genoa đều thu lợi từ những thương vụ mới này. Nhưng xứ Florence mới thực sự chiếm phần lớn nhất. Hệ thống ngân hàng Florence thống lĩnh hệ thống tài chính quốc tế nhờ đồng tiền vàng florin nổi tiếng. Được đúc lần đầu tiên vào năm 1252, đồng florin nhanh chóng nhận được sự tín nhiệm và công nhận rộng rãi, thực sự trở thành đồng tiền mạnh (hard currency) vào thời đó.

Tới đầu thế kỷ 14, hai dòng họ Bardi và Peruzzi là những người giàu có nhất tại Florence nhờ vào việc cung cấp các dịch vụ tài chính. Họ tổ chức việc thu và chuyển tiền dựa trên các hệ thống phong kiến quyền lực nhất, đặc biệt là nhờ Đức Giáo hoàng. Hoạt động buôn bán và trao đổi hàng hóa trở nên thuận tiện với những hóa đơn trao đổi (bill of exchange) mà nhà Bardi và Peruzzi cấp cho các thương nhân. Khi xuất trình những hóa đơn này, thương nhân có thể nhận được tiền ở bất kỳ ngân hàng trong hệ thống. (Đây là hình thức tương đồng với việc sử dụng cheque ngày nay).

Các ngân hàng xứ Florence đảm bảo dịch vụ này nhờ số lượng chi nhánh ở khắp nước Italia và tại các trung tâm buôn bán lớn của châu Âu. Tới đầu thế kỷ 14, hệ thống ngân hàng Bardi đã hiện diện tại Barcelona, Seville và Majorca; Paris, Avignon, Nice và Marseilles; London, Bruges, Constantinople, Rhodes, Cyprus và Jerusalem.

Quyền lực của xứ Florence còn được củng có bởi những khoản nợ lớn mà các chủ ngân hàng ở đây đang nắm giữ. Con nợ, không ai xa lạ, chính là các vị Hoàng đế uy quyền bậc nhất châu Âu. Cũng chính vì lẽ đó, không lâu sau, các ngân hàng này rơi vào cảnh tồi tệ.

Năm 1340, vua Edward III của nước Anh thực hiện “thương vụ” cực kỳ tốn kém: cuộc chiến với nước Pháp, sự khởi đầu của một thế kỷ chiến tranh. Vị Hoàng đế vay rất nhiều tiền từ xứ Florence. Nhà Peruzzi cho vua Edward III vay 600.000 florin vàng còn nhà Bardi cung cấp khoản vay 900.000 florin vàng. Tới năm 1345, nhà vua vỡ nợ và cả hai dòng họ ngân hàng Florence cũng lâm vào cảnh phá sản.
Tuy vậy, vai trò trung tâm ngân hàng châu Âu của xứ Florence vẫn tiếp tục sau thảm họa này. Nửa thế kỷ sau, những gia tài lớn nhất lại được các gia tộc ngân hàng ở đây tạo dựng. Lần này hai dòng họ lừng danh của thế kỷ 15: Pazzi và Medici.

Nguồn: historyworld.net (Bản dịch tiếng Việt của saga.vn) 

>> Lịch sử ngành ngân hàng thế giới (P1): Thế kỷ 18 TCN – Hy Lạp và La Mã cổ đại
>> Lịch sử ngành ngân hàng thế giới (P5): Ngân hàng quốc gia, Tiền giấy và Gia tộc Rothschild 
 
Share:

Lịch sử ngành ngân hàng thế giới (P1): Thế kỷ 18 TCN – Hy Lạp và La Mã cổ đại

Ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi và cung cấp các khoản vay. Những ngân hàng đầu tiên được biết tới trong lịch sử nhân loại là các đền thờ cổ đại.

Những dịch vụ ngân hàng đầu tiên không dành cho đông đảo người dân bình thường. Các hoàng tộc, vương triều và một số ít nhà buôn giàu mới là đối tượng phục vụ của ngân hàng nguyên thủy.

Nơi cất trữ an toàn: Thế kỷ 18 trước Công nguyên

Vào khoảng ba nghìn năm trước Công nguyên (TCN), hình thức ngân hàng sơ khai được nhiều nhà sử học cho rằng đã hình thành trước khi con người phát minh ra tiền.

Ban đầu, tài sản gửi tại “ngân hàng” là các loại ngũ cốc, sau đó là gia cầm, nông sản, rồi đến kim loại quý như vàng. Đền thờ là nơi an toàn để cất trữ tài sản. Đó là các công trình được xây dựng kiên cố, thường xuyên có người tới hành lễ. Và xét về tâm linh thì ngay những tên trộm táo tợn nhất cũng có ý tránh chốn linh thiêng này.

Tại Ai Cập và Mesopotamia, vàng được gửi vào các đền thờ. Nhưng những tài sản quý giá này lại ngủ yên trong đó, trong khi, ở bên ngoài xã hội, các nhóm thương nhân và hoàng tộc lại rất cần sử dụng chúng.
Các nhà khảo cổ học tìm được những tàng tích cho thấy tới đầu thế kỷ 18 trước Công nguyên, tại Babylon, dưới thời trị vì của Hammurabi, thầy tu trông giữ đền thờ bắt đầu cho các nhà buôn mượn tài sản cất trữ trong đền. Khái niệm ngân hàng ra đời.

Hy Lạp và La Mã: Thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên

Người Hy Lạp cổ đại nắm giữ những bằng chứng xa xưa nhất về hoạt động ngân hàng.

Các ngân hàng của người Hy Lạp vận hành đa dạng và phức tạp hơn bất kỳ xã hội nào trước đó. Các đền thờ Hy Lạp cũng như các cá nhân và tổ chức hành chính tại các thành đô đã biết tới những giao dịch tài chính như cho vay, gửi tài sản, trao đổi tiền tệ, và định giá tiền đúc thông qua xác định khối lượng và mức độ thuần khiết của kim loại.

Thậm chí, người Hy Lạp đã sử dụng các giao dịch tín dụng ghi sổ. Tại các hải cảng, nơi tập trung nhiều hoạt động giao thương, người cho mượn tiền viết giấy tín dụng cho người cần sử dụng tiền. Người cầm giấy này có thể “đổi” lại thành tiền khi đến thành phố khác. Nhờ vậy mà người ta tránh được việc phải mang theo một lượng tiền lớn trong các chuyến buôn bán giữa các thành bang.

Pythius nổi tiếng là người lập ra và điều hành ngân hàng thương nhân (merchant bank) khắp vùng Tiểu Á đầu thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên. Nhân vật này được các nhà sử học coi là nhà ngân hàng tư nhân đầu tiên.

Một điểm đáng chú ý là tại các thành bang Hy Lạp, rất đông chủ ngân hàng là người lai hoặc người nước ngoài. Vào khoảng năm 371 trước Công nguyên, Pasion, một nô lệ, đã trở thành nhà ngân hàng Hy Lạp giàu có và nổi tiếng nhất, đã được tự do và được công nhận tư cách công dân của Athena.

Dường như người Hy Lạp, với trình độ phát triển khoa học cao, đã xem nhẹ lĩnh vực kinh doanh tiền tệ. Điều này giúp lý giải việc Hy Lạp đạt tới nền văn minh đỉnh cao từ rất sớm nhưng không có đóng góp hiểu biết đáng kể trong lĩnh vực kinh tế đương đại.

Hoạt động tín dụng ngân hàng phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên ở vùng Địa Trung Hải.

Tại Ai Cập, từ rất sớm, ngũ cốc đã được sử dụng như một loại tiền tệ bên cạnh kim loại quý (vàng và bạc). Các kho chứa ngũ cốc của triều đình thực hiện chức năng của ngân hàng. Khi đế chế Hy Lạp chinh phục Ai Cập, thời kỳ trị vì của hoàng gia Ptolemies (330-323 B.C.), những kho chứa nằm rải rác được tổ chức lại thành một hệ thống ngân hàng ngũ cốc, và được quản lý tập trung tại Alexandria – nơi ghi chép và lưu trữ tài khoản của các tất cả các ngân hàng ngũ cốc.

Mạng lưới ngân hàng này hoạt động như hệ thống tín dụng thương mại, trong đó, việc thanh toán được thực hiện bằng ghi sổ từ tài khoản này sang tài khoản khác mà không cần chuyển tiền trên thực tế. Đây chính là bản chất và hình thức đầu rõ ràng nhất của các nghiệp vụ bù trừ hay thanh toán điện tử của các ngân hàng hiện đại.

Cuối thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, đảo Delos ở vùng đất Aegean cằn cỗi, trở thành trung tâm ngân hàng quan trọng của vùng Địa Trung Hải. Nơi đây cũng nổi tiếng với hải cảng sầm uất và đền thờ thần Apollo tráng lệ.

Cũng giống như tại Ai Cập, giao dịch bằng tiền được thay thế bởi các hóa đơn tín dụng và việc thanh toán được thực hiện dựa trên những chỉ dẫn đơn giản với các tài khoản giữ riêng cho mỗi khách hàng.
Sau khi người La Mã chinh phạt các đối thủ cạnh tranh là Carthage và Corinth, Delos càng trở nên quan trọng. Hệ thống ngân hàng của Delos gần như được các ngân hàng ở Rome sao chép lại.

 Thành Rome cổ đại đã hoàn thiện các qui tắc và thủ tục hành chính của ngân hàng, cũng như các tổ chức và giao dịch tài chính. Lãi suất tiền vay và lãi tiền gửi được sử dụng rộng rãi với kỹ thuật tính toán phát triển và trong môi trường cạnh tranh.

Trong thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên, các khoản nợ được coi là đã chính thức thanh toán sau khi số tiền tương ứng đã chuyển tới ngân hàng. Nhà nước La Mã bổ nhiệm công chứng viên ghi nhận các giao dịch ngân hàng.

Tuy vậy, sự phát triển của các ngân hàng La Mã gặp phải cản trở lớn từ thói quen sử dụng tiền mặt trong giao dịch của người La Mã. Trong thời gian trị vì của Gallienus (260-268 sau Công nguyên), hệ thống ngân hàng La Mã từng bị gián đoạn sau khi các ngân hàng từ chối tiền bằng đồng mà vị Hoàng đế cho đúc ra.

Khi đế chế La Mã suy vong, các hoạt động thương mại giảm đáng kể nên các ngân hàng cũng không còn cần thiết. Thêm vào đó, giáo lý Cơ đốc cổ ngăn cấm thực hiện các giao dịch ngân hàng và coi việc tính lãi (cả với tiền gửi và tiền cho vay) là không có đạo đức.

Sau khi La Mã sụp đổ, hoạt động ngân hàng bị cấm tại Tây Âu và chỉ được phục hồi trở lại vào thời điểm các cuộc thập tự chinh xuất hiện.

Nguồn: historyworld.net (Bản dịch tiếng Việt của saga.vn)


>> Lịch sử ngành ngân hàng thế giới (P5): Ngân hàng quốc gia, Tiền giấy và Gia tộc Rothschild 
Share:

Lịch sử ngành ngân hàng thế giới (P3): Dòng họ Medici và Fugger ở thế kỷ 15 – 16

Nhà Medici và Fugger tích lũy gia sản khổng lồ bằng việc chăm sóc tài chính cho Giáo hoàng và các hoàng tộc.


Gia tộc Medici xứ Florence

Một trong những cái tên được biết tới nhiều nhất trong thời kỳ đầu của lịch sử ngân hàng thế giới là dòng họ Medici ở xứ Florence.

Xuất thân từ những người nông dân, rồi tham gia các hoạt động buôn bán và ngân hàng, dòng họ Medici dần trở thành một trong các gia đình quyền lực nhất châu Âu trong suốt thời gian từ giữa thế kỷ 14 đến 1748.

Dưới sự dẫn dắt của Giovanni Medici từ đầu thế kỷ 15 và sau đó là Cosimo, dòng họ xứ Toscan (thuộc Italia) dần mở rộng các hoạt động ngân hàng ra ngoài ranh giới xứ Florence với các chi nhánh tại Milan, Geneva, Bruges, Ancona, Pisa, London và Avignon. Chi nhánh tại Rome quản lý tài khoản của Đức giáo hoàng.

Tại Florence, ngân hàng Medici nhận tiền gửi của những người Florence giàu có. Các khoản tiền gửi này có thể được rút ra theo định kỳ từ ba tháng đến một năm và hưởng mức lãi suất khoảng 10% mỗi năm.

Dòng họ Medici cũng dần quản lý xứ Florence, thể hiện sức mạnh kết hợp giữa tài chính và chính trị. Sự kết hợp này đã vô cùng hữu ích vào năm 1452 khi cả hai xứ Naples và Venice gây chiến với Florence. Đối mặt cùng lúc với hai mối hiểm hoạ, Cosimo đã cho đòi các khoản nợ tại hai thành phố thù địch khiến cho chiến tranh không thể nổ ra bởi hai thành phố này không còn đủ nguồn tài chính để thuê quân lính.
Nhà Medici sau cùng cũng nhận được tước hiệu Công tước xứ Florence nhưng vị trí đứng đầu ngành ngân hàng đã lọt vào tay ngân hàng Đức – dòng họ Fugger.

“Dòng họ Medici đạt tới đỉnh cao dưới thời Lorenzo (1449-1492), cháu trai của Cosimo. Lorenzo được coi là hình ảnh mẫu mực của một quý ông thời kỳ Phục Hưng. Ông là người trị vì xứ Florence, nhà thơ, học giả, một người say mê nghệ thuật, và một chủ ngân hàng. 

Danh tiếng này, tuy vậy, cũng có giá của nó. Dưới thời kỳ Lorenzo, dòng họ Medici đã cho vua nước Anh Edward IV vay tiền để tài trợ cho Cuộc chiến Hoa hồng (Wars of the Roses). Khi vị vua nước Anh không thể trả nợ, ngân hàng đã bị mất một số tiền lớn và buộc phải đóng cửa chi nhánh tại London.

Dòng họ Medici cũng tham gia tích cực các hoạt động chính trị tại Nhà thờ Thiên chúa Giáo, và rất có uy tín với các thế lực ngầm. Dòng họ Medici luôn là những chủ ngân hàng đầy thủ đoạn, sẵn sàng tận dụng mọi cơ hội để loại bỏ đối thủ cạnh tranh.

Dòng họ Medici bắt đầu suy yếu từ thế kỷ 16 khi xứ Florence bị xâm lược nhiều lần. Vào thế kỷ 16, ngân hàng Medici thoát khỏi cảnh phá sản nhờ sự giúp đỡ của Fuggers, một ngân hàng lớn ở miền nam nước Đức. Đến thế kỷ 18, ngân hàng Medici chỉ còn là cái bóng mờ nhạt của chính mình. Nhưng tên tuổi của dòng họ Medici và ngân hàng Medici xứ Florence còn mãi trong lịch sử ngân hàng thế giới.”

–Jane E. Hughes và Scott B. MacDonald, 2002. International Banking: Text and Cases.
Dòng họ Fugger

Cũng giống như nhà Medici, nhà Fugger tích lũy gia sản khổng lồ bằng việc chăm sóc tài chính cho Giáo hoàng và các hoàng tộc. Cuối thế kỷ 15, quyền lực của châu Âu được chuyển về Habsburgs, nơi gia đình Fugger sinh sống.

Tổ tiên nhà Fugger làm nghề dệt vải tại Augsburg và những tài sản đầu tiên của gia đình đều năm trong ngành dệt. Người vay tiền nhà Fugger đầu tiên là một hoàng tử Habsburgs vào năm 1487, với khoản đảm bảo là mỏ đồng và bạc ở vùng Tirol. Kể từ đó, gia tộc này mở rộng và phát triển các hoạt động khai mỏ và kim loại quý.

Năm 1491, Maximilian, lúc này còn là hoàng tử của vương triều Roman Thần thánh, nhận khoản vay đầu tiên từ nhà Fugger và đảm bảo bằng các quyền lợi kinh tế thu được từ hai lãnh đại tại Áo. Sau khi lên ngôi hoàng đế ở Habsburgs, Maximilian vẫn tiếp tục phải vay tiền của gia tộc Fugger.

Người vay nhiều tiền nhất từ nhà Fugger là cháu nội của Maximilian, vua nước Đức Charles. Thừa hưởng từ cha ông ngai vàng của nước Đức và vương triều Roman nhưng để giữ tước vị, Charles phải cạnh tranh với Hoàng đế nước Pháp, Francis Đệ nhất. Để có tiền trang trải cho cuộc tranh cử, Charles tìm đến nhà Fugger. Một lượng tiền khổng lồ đã được sử dụng để hối lộ bảy người bỏ phiếu: 852.000 florin. Gần hai phần ba số tiền này do nhà Fugger tài trợ (544.000 florin). Chiến dịch vận động tranh cử thắng lợi. Charles V đăng quang.

Thời gian đó, mức lãi suất không bao giờ ở dưới 12%/năm. Và với một khoản vay nóng, nhà ngân hàng ở thế kỷ 16 dễ dàng nâng mức lãi suất lên 45%. Cung cấp dịch vụ ngân hàng cho các hoàng đế mang lại lợi nhuận cao.

Các cuộc chiến liên tiếp và những khoản chi tiêu của vương triều đều đặn làm suy kiệt tài chính của Hoàng đề Charles. Cũng giống như những người đang trị vì các quốc gia châu Âu vào thời kỳ đó, chi phí của Charles V vượt xa những nguồn lợi có thể thu được. Phần chênh lệch được bù đắp bằng các khoản vay ngân hàng và thường được hoàn trả bằng cách nhượng lại những nguồn thu lợi của hoàng gia.

Nhờ đó, nhà Fugger được trao toàn quyền hưởng số lợi tức từ Tây Ban Nha cùng các mỏ bạc và thủy ngân vào năm 1525. Nhà ngân hàng này, từ đó, giữ vị thế đồng thời là người thu lợi tức và người quản lý tài sản của vương triều. Nhưng mức lãi suất cao của họ có thể nhanh chóng phá tan một vương quốc đã tham giá quá nhiều cuộc chiến không mang lại lợi nhuận.

“Dòng họ Fugger. Fugger là một trong các dòng họ nổi tiếng nhất trong ngành ngân hàng tại Đức vào giữa thời kỳ Trung cổ.
Cuối thế kỷ 15, dòng họ Fugger nổi lên như một gia đình buôn bán có thế lực tại thành phố Augsburg, và thường được nhắc tới như những người chủ ngân hàng chuyên phục vụ dòng họ Hapsburg. Năm 1487, Jakob Fugger (1459-1525) cho Sigismund- Hoàng tử xứ Tyrol- vay 20.000 duca (đồng tiền vàng cổ châu Âu). Để đảm bảo cho khoản vay, vị lãnh chúa dòng họ Hapsburg đã trao cho Jakob quyền kiểm soát các mỏ bạc tốt nhất vùng Schwarz và toàn bộ doanh thu thuế của tỉnh Tyrol.

Thời kỳ đó, nhu cầu sử dụng bạc rất lớn nhằm phục vụ công việc chế tác các đồ trang sức tinh xảo. Bạc cũng là phương tiện thanh toán, trao đổi xếp thứ hai sau vàng. Quyền kiểm soát các nguồn lực này vừa mang lại nguồn lợi khổng lồ vừa củng cố sức mạnh tài chính của dòng họ Fugger.

Với một khoản vay khác cho Hoàng tử Sigismund năm 1488, dòng họ Fugger đã có quyền kiểm soát hoạt động khai thác bạc trên toàn bộ lãnh thổ. Khi kế tục Sigismund nắm quyền cai quản Tyrol, năm 1490, Maximilian tiếp tục duy trì mối quan hệ tín dụng này. Ngay sau đó, năm 1491, Maximilian có thêm một khoản vay mới từ dòng họ Fugger nhằm tài trợ cho cuộc chiến thống nhất các lãnh địa thuộc dòng họ Hapsburg. Maximilian trở thành Hoàng đế của Đế chế Roman (Holy Roman Empire) vào năm 1493. Gia đình Fugger có một người bạn đầy quyền lực và một khách hàng gắn bó.

Đến năm 1508, công việc kinh doanh của dòng họ Fugger đã trải khắp châu Âu với các hoạt động đầu tư trong lĩnh vực dệt may, buôn bán hạt tiêu, bất động sản, và khai thác mỏ bạc và đồng. Ngân hàng Fugger cũng tham gia tài trợ cho các cuộc viễn chinh tại châu Mỹ.

Hệ thống kinh doanh quốc tế của gia đình Fugger cho phép họ cung cấp thêm một dịch vụ mới cho vương triều Hapsburg, khi đế chế này mở rộng và nằm rải rác ở nhiều vùng địa lý trên khắp lục địa châu Âu. Các lãnh địa chư hầu có nghĩa vụ nộp tiền cho vương triều Hapsburg. Họ thực hiện nghĩa vụ của mình bằng nhiều đồng tiền khác nhau và việc vận chuyển thường tốn rất nhiều thời gian và nguy hiểm.

Kết quả là việc sử dụng hệ thống của gia đình Fugger sẽ vô cùng tiện lợi cho hoàng gia. Với các lệnh chuyển đổi, tiền sẽ được chuyển tới Augsburg chỉ trong vòng hai tuần. Có thể hình dung một cách đơn giản, đại diện của gia đình Fugger tại Antwerp nhận tiền và phát hành một giấy ghi nhận tín dụng. Giấy chứng nhận này sẽ nhanh chóng được chuyển tới Đức và đổi thành tiền mặt tại ngân hàng Fugger ở Augsburg.

Gia tài của dòng họ Fugger, tuy vậy, cũng trở nên gắn bó vô cùng mật thiết với các hoạt động của khách hàng lớn nhất, vương triều Hapsburg. Dưới thời Charles V, người kế nghiệp Maximilian, chiến phí quá lớn trong các cuộc xung đột với người Ottoman, Pháp, và người Tin lành tại Đức đã đặt tình trạng tài chính của vương triều vào tình trạng căng thẳng đáng ngại. Mặc dù gia đình Fugger tin rằng họ đã gia hạn quá mức với vương triều Hapsburd, họ vẫn phải miễn cưỡng tiếp tục cung cấp các khoản tín dụng.

Sức mạnh tài chính của dòng họ Fugger bị tổn hại nghiêm trọng khi Philip II của Tây Ban Nha tuyên bố phá sản vào năm 1577. Gia sản của dòng họ Fugger sụt giảm nghiêm trọng ngay sau đó.”
–Jane E. Hughes và Scott B. MacDonald, 2002. International Banking: Text and Cases.
Tới cuối thế kỷ 16, dòng họ Fugger rút khỏi các hoạt động tài chính rủi ro, sau một số thảm họa gia đình, và duy trì hiện diện như một gia đình quí tộc sau khi bán đi phần lớn tài sản.

Từ đây xuất hiện những triều đại ngân hàng mới, trong đó nổi bật và quyền lực nhất là gia tộc Rothschild. Nhưng điểm đáng kể nhất của lịch sử ngân hàng thế kỷ 17 lại là mô hình kinh doanh với các dịch vụ thương mại hướng tới khách hàng thông thường nhiều hơn các vị hoàng đế.

Nguồn: historyworld.net (Bản dịch tiếng Việt của saga.vn)



>> Lịch sử ngành ngân hàng thế giới (P2): Ngân hàng cho các Hoàng đế châu Âu


>> Jacob Fugger - Người đàn ông giàu nhất trong lịch sử nhân loại?

 
Share:

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?

Follow by Email