Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Thứ Năm, 31 tháng 10, 2013

Tham vọng dẫn đầu ngành thời trang của ông chủ Uniqlo

Chọn con mèo Maru làm đại sứ thương hiệu, Uniqlo cho thấy đó là sự lựa chọn hết sức độc đáo, mới lạ của mình.

http://www.blogchungkhoan.com/search/label/Tadashi%20Yanai
Thông thường, các doanh nghiệp muốn khuếch trương, quảng bá thương hiệu, hình ảnh của mình thì hay chọn những nhân vật nổi tiếng (có thể là diễn viên điện ảnh, người mẫu, vận động viên thể thao...) làm đại sứ thương hiệu. Đó là cách làm quen thuộc bấy lâu nay. Song trong tuần qua, Uniqlo, hãng sản xuất và kinh doanh chuỗi cửa hàng bán lẻ hàng may mặc hàng đầu của Nhật Bản lại có cách chọn đại sứ thương hiệu hết sức độc đáo, mới lạ, chẳng giống ai. 

Đó là chọn con mèo Maru trên mạng Internet. Maru là một trong những chú mèo nổi tiếng nhất trên mạng Internet hiện nay. Clip về chú mèo đáng yêu này đùa với các hộp vuông mang thương hiệu Uniqlo trên mạng chia sẻ video Youtube đã thu hút gần 200 triệu lượt người xem.

Hãng Uniqlo chọn chiêu tiếp thị này ngay trước khi mở cửa hàng mới Uniqlo tại TP. San Francisco (bang Calfornia - Mỹ) vào ngày 5/10 tới.

Trước đó, trong tháng 5/2012, ngay trước thềm Giải vô địch quần vợt Pháp mở rộng Roland Garros, Uniqlo cũng gây ngạc nhiên cho nhiều người khi bổ nhiệm đại sứ thương hiệu là tay vợt Novak Djokovic (Serbia). Vận động viên này đã giành được một số giải Grand Slam và hiện đứng thứ 2 thế giới, sau Roger Federer (Thuỵ Sỹ). Chi tiết của bản hợp đồng giữa cây vợt người Serbia với Uniqlo không được tiết lộ, song chắc chắn ít nhất cũng phải vài triệu USD mỗi năm, cao hơn so với mức tài trợ mà Hãng Sergio Tacchini (Italia) đã trả.

Ông Tadashi Yanai, Chủ tịch Uniqlo nhận xét, chính bản thân Novak Djokovic đã luôn có khát vọng vươn đến ngôi vị số 1 thế giới, không ngừng chạy đua với các đối thủ khác và gặt hái nhiều thành công. “Đây chính là điểm chung giữa Uniqlo và Novak Djokovic, khi Uniqlo cũng có tham vọng hướng tới vị trí số 1 vào năm 2020, với mục tiêu doanh thu đạt 50 tỷ USD, vượt xa con số hiện tại là 12 tỷ USD, và vượt qua các đối thủ chính là Zara (Tập đoàn Inditex của Tây Ban Nha), H & M (Thuỵ Điển) và GAP (Mỹ)”, ông Tadashi Yanai cho biết.

Để đạt được tham vọng đó, Uniqlo đã từng bước thiết lập vị trí của mình tại thị trường Mỹ, với một loạt các cửa hàng lớn thu hút sự chú ý trên đại lộ số 5 (New York); hợp tác cùng nhà thiết kế lừng danh Jil Sander (Mỹ); tạo môi trường bán hàng thân thiện với nghệ thuật bán hàng và không gian đẹp được chính các nhà quản lý Uniqlo tại Nhật Bản nghiên cứu, trước khi nhân rộng sang các thị trường khác trên toàn cầu.

Dự kiến, Uniqlo sẽ mở hai cửa hàng mới ở Mỹ vào mùa Thu này, đồng thời tung ra một trang web thương mại điện tử. Công ty hy vọng sẽ mở thêm hàng trăm cửa hàng như thế ở đây, với tốc độ 20 - 30 cửa hàng mỗi năm. Trong ngắn hạn, Uniqlo muốn đánh bại GAP trên thị trường Mỹ với giá cả phải chăng.

Tuy nhiên, việc làm sao cho các thiết kế phù hợp với người Nhật cũng trở nên phù hợp với người Mỹ sẽ là một thách thức không nhỏ với Uniqlo. Ông Tadashi Yanai rất tâm đắc với câu chuyện về các loại vải mang tính sáng tạo mới của Uniqlo.

“Người Mỹ tin rằng cotton là loại vải tốt nhất, nhưng chúng tôi đã phát minh ra loại vải mới sẽ thay đổi lối sống của nhiều người, từ loại vải giữ ấm độc đáo Heattech đến loại vải làm mát Airism, mặc như không mặc trong mùa Hè”, ông Tadashi Yanai nói.

Để thể hiện sự hòa nhập của mình, đầu năm 2012, ông Tadashi Yanai đề ra quy định, tiếng Anh sẽ là ngôn ngữ chính thức được sử dụng trong toàn Công ty. Tức là mọi nhân viên của Uniqlo đều phải học và sử dụng được tiếng Anh.

Đi lên từ một doanh nghiệp gia đình nhỏ đã tồn tại từ năm 1949, ông Tadashi Yanai mở cửa hàng Uniqlo (viết tắt tiếng Anh của Unique Clothing Warehouse) đầu tiên tại TP. Hiroshima vào năm 1984. Uniqlo cũng từng là công ty con của Fast Retailing Co., Ltd.., song từ ngày 1/11/2005, đã tách ra độc lập hoàn toàn và niêm yết cổ phiếu tại Sở GDCK Tokyo.

Tiếp sau đó, chuỗi cửa hàng Uniqlo được mở rộng ra khắp Nhật Bản. Ngay sau khi có chuỗi cửa hàng bán lẻ hàng đầu ở Harajuku vào năm 1998, Uniqlo trở thành một trào lưu ăn mặc sành điệu, khi đưa ra thị trường loại vải lông cừu, vốn khá đắt tiền. Chỉ trong năm 2000, Uniqlo đã bán được 26 triệu sản phẩm quần áo lông cừu các loại.

Đầu những năm 2000, tin rằng thương hiệu Uniqlo đã chinh phục được khách hàng Nhật Bản, ông bắt đầu chuyển sự tập trung sang thị trường Mỹ, châu Âu và Đông Á. Hiện tại, Uniqlo đã có hơn 800 cửa hàng ở Nhật Bản. Ông Tadashi Yanai đã tính đến bài mua bán & sáp nhập (M&A), nhưng dường như chưa có duyên với chuyện này, khi năm 2007, thất bại trong việc mua lại Barneys, còn năm ngoái việc muốn thâu tóm GAP đổ vỡ ngay ở giai đoạn đầu.

Theo Tạp chí kinh doanh Forbes (Mỹ), với tổng tài sản 9 tỷ USD, ông Tadashi Yanai hiện là tỷ phú giàu nhất Nhật Bản.

Ông đang đầu tư xây dựng Trường đại học Uniqlo tại Tokyo để hàng năm đào tạo, nâng cao trình độ, nghiệp vụ cho 1.500 nhà quản lý cửa hàng. Tức là luôn luôn tìm mọi cách làm mới Uniqlo.

Theo Trung Hiếu
Đầu tư Chứng khoán
Share:

Tuyệt chiêu của "vua bất động sản" Lý Gia Thành

Lý Gia Thành, được mệnh danh là "siêu nhân kiếm tiền" của mảnh đất giao thoa Đông – Tây, Hong Kong, là con trai một nhà giáo nghèo, giờ là một trong mười người giàu nhất thế giới.


Là người con của quê hương Triều Châu – thành phố nằm cách Hong Kong khoảng 300 km về phía Đông Bắc, ông là người Trung Quốc đầu tiên phá vỡ vòng kiềm tỏa gắt gao lên các tập đoàn thương mại Hong Kong của thực dân Anh, đồng thời cũng là người giữ vị trí quan trọng trong ngành thương mại vận tải biển.

Bạn bè, đồng nghiệp gọi ông là Gia Thành. Báo chí gọi ông là “Mr. Money” (tạm dịch là “Ông lắm tiền”), “Siêu nhân”. Đôi khi gặp ông Lý trên một con đường náo nhiệt ở Hong Kong, người ta cúi đầu chào theo kiểu hành lễ dành cho bậc vương quyền: “Chào ngài, Lý đại gia”.

Lý Gia Thành nổi tiếng là ông vua bất động sản. Ở Hong Kong, những gia đình tham vọng nhất cũng chỉ cầu mong con em mình tiếp bước theo con đường vinh quang của Lý Gia Thành.
Sau đây là 3 bí quyết thành công của Lý Gia Thành trong lĩnh vực bất động sản:

1. Tôn trọng chủ đất như người bạn 

Ông từng nói: “Vào thời điểm thị trường giữ giá cao nhất, tôi tính toán rất kỹ về ngân sách trước khi tham dự các phiên đấu giá đất. Tuy nhiên, một số người lại không hề cân nhắc ngân sách mà chỉ biết đặt hết giá này đến giá khác”.

Chiến lược của ông Lý trong đầu tư bất động sản khá đơn giản. Thay vì đóng băng tất cả vốn cố định, ông luôn tìm kiếm và đầu tư vào những khu đất đẹp, có vị trí chiến lược.

Ông có cách đề nghị mà không người bán nào có thể từ chối. Trên khu đất mua được, ông sẽ xây nhà ở cho công nhân và tầng lớp hạ - trung lưu, xây văn phòng cho các doanh nghiệp nhỏ. Và kết quả là ông bán mọi thứ hết sức chóng vánh.

Lý Gia Thành không phải là người liều lĩnh trong cuộc chơi bất động sản. Ông thường chia sẻ kinh phí và lợi nhuận khi làm ăn với đối tác, người chủ đất. Bằng cách này, người chủ đất có thể nhận được nhiều hơn số tiền bán đất ban đầu.

Ông Lý không bao giờ đặt tiền trước nhằm giảm thiểu rủi ro. Trong kinh doanh bất động sản, những mối quan hệ làm ăn và quan hệ bạn bè được ông coi trọng ngang nhau.

Cuối thập niên 1980, trong thương vụ mua đất khu Expo ’86 tại Vancouver, một trong những thỏa thuận bất động sản lớn nhất, Lý Gia Thành đã phát biểu: “Tôi thích những thỏa thuận thân thiện. Đó là triết lý của tôi. Và tôi thường dạy hai cậu con trai không bao giờ được lợi dụng một ai. Ngay cả khi hoạt động kinh doanh còn chưa phát triển, tôi vẫn coi danh tiếng là của cải quan trọng nhất. Nếu anh có danh tiếng, chăm chỉ, tử tế với mọi người, luôn giữ lời hứa, việc kinh doanh của anh sẽ trở nên dễ dàng. Vì vậy, nhiều cơ hội đã đến với tôi. Tôi phải gây dựng danh tiếng để mọi người có thể tin tưởng mình… Bất cứ điều gì tôi nói, tôi sẽ làm. Tôi không chỉ nghĩ đến lợi nhuận của cá nhân mình mà còn nghĩ đến cả phần của đối tác”.

Thực tế, ông đã mua được khu đất Vancouver với giá hời và giành được sự chấp thuận cho thay đổi diện mạo của khu cảng thành phố. Ngoài ra, ông còn những hợp đồng béo bở với các đối tác lâu năm đầy tin tưởng là Trịnh Dụ Đồng của New World Development, Lý Triệu Cơ của Henderson Land và Ngân hàng CIBC.

Trong giai đoạn 1966-1967, ở Hong Kong, nền chính trị đầy biến động đã tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực kinh tế. Nhiều người dân và thương nhân đã bỏ trốn khỏi vùng thuộc địa tới những nước xa xôi và an toàn như Canada, Australia và Mỹ.

Kết quả là thương trường nơi đây trở nên bất ổn, các nhà đầu tư lo sợ sẽ mất mọi thứ. Với những nhà kinh doanh bất động sản như Lý Gia Thành, tình trạng này đã gây nên những ảnh hưởng nghiêm trọng tới giá bất động sản. Ngay cả ông cũng bắt đầu phải tìm kiếm các nguồn đầu tư nước ngoài như một bước đệm để giảm bớt ảnh hưởng của khủng hoảng. Và thương vụ đầu tiên là trung tâm mua sắm Vancouver, Canada, ngay khi bất ổn chính trị tại Hong Kong kết thúc.

2. Nắm bắt cơ hội khi kinh tế khủng hoảng

Khi bất ổn chính xảy ra, Lý Gia Thành không rút hết vốn tại Hong Kong. Thực tế, ông đã có ý định tận dụng một số cơ hội mà cuộc cách mạng mang tới.

Khi vội vã rời khỏi Hong Kong, người ta đã bỏ lại sau lưng tất cả nhà xưởng, cửa hàng, khách sạn và nhà ở, tất cả đều được bán giá rẻ mạt. Đối với Lý Gia Thành, người luôn tin rằng cuộc cách mạng sẽ chỉ như một đốm sáng trên màn hình ra-đa chính trị của Trung Quốc và Hong Kong, và đây chính là cơ hội để xem xét và lựa chọn cả một danh sách những gì ông cho rằng sẽ mang lại lợi nhuận cao nhất sau khi trật tự trở về với vùng thuộc địa, và thị trường lại hứa hẹn như trước.

Ông Lý đã xúc tiến việc mua bán bất động sản trong suốt thời gian cuộc cách mạng bùng nổ. Nhờ đó, ông trở thành một trong những đại gia bất động sản hàng đầu Hong Kong, đến mức vào năm 1973 – bốn năm sau khi cuộc cách mạng kết thúc – Tập đoàn Trường Giang của Lý Gia Thành đã nắm trong tay 40 khu đất trong danh mục đầu tư bất động sản thực tế của mình.

Một ủy viên ban quản trị tại Hong Kong đã nói về những ngày tháng của Lý Gia Thành khi cuộc cách mạng diễn ra như sau: “Ông Lý hiểu rất rõ về thị trường bất động sản. Ông ấy đã mua lại mọi thứ trước khi giá cả bùng nổ”.

3. Lòng kiên định

Ông nói: “Một người cần nhiều phẩm chất quan trọng để thành công, như khả năng làm việc chăm chỉ, lòng trung thành đối với những người làm việc cùng mình và với công việc đang làm, khả năng phán đoán tốt và cả một chút may mắn nữa. Tất cả những phẩm chất này phải kết hợp với điều quan trọng nhất là lòng kiên định, bởi nếu bạn không có lòng kiên định, bạn có thể sẽ đi sang phía Đông theo lời khuyên của người này, rồi lại sang phía Tây vì lời khuyên của người khác. Và nếu như bạn nghe theo cả hai, thì dứt khoát là bạn gặp rắc rối rồi đấy”.

Ông cũng chia sẻ: “Theo cách nói của người Trung Quốc, tôi phải công nhận mình may mắn. Tuy nhiên, trong khi đưa ra quyết định cuối cùng, bao giờ tôi cũng nghiên cứu mọi việc rất kỹ, từ nguồn cung, cầu cho đến tình hình chính trị. Môt khi đã quyết định, tôi sẽ tiến hành rất nhanh để thâu tóm thị trường vào đúng thời điểm. Các bạn thấy đấy, tôi luôn đeo đồng hồ bấm giờ. Cho dù một cơ hội trông có vẻ tuyệt vời đến đâu thì tôi vẫn luôn chuẩn bị sẵn sàng cho những rủi ro có thể gặp phải”.
Share:

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013

Stan Fischer - Dấu gạch nối của 2 trường phái kinh tế

Stanley Fischer, người trong tháng 2 vừa qua vừa thông báo sẽ thôi giữ chức Thống đốc NHTW Israel, là một trong những nhà kinh tế học xuất sắc nhất còn sống trên thế giới. 


Tháng 8 hàng năm, các thống đốc NHTW trên khắp thế giới tụ họp tại vườn quốc gia Grand Teton ở Wyoming và thảo luận các chuyên đề kinh tế vĩ mô. Cách đây một vài năm, tại một trong những bữa tiệc tối, Thống đốc Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) Ben Bernanke nhìn vào một vài đồng nghiệp xuất sắc trong ngành tài chính và đưa ra câu hỏi: "Các ông có biết tất cả mọi người trên bàn tiệc này đều có 1 điểm chung?”.  “Tất cả đều có người hướng dẫn luận văn tốt nghiệp là Stan Fischer”, Bernanke trầm ngâm. 

Stanley Fischer, người trong tháng 2 vừa qua vừa thông báo sẽ thôi giữ chức Thống đốc NHTW Israel, là một trong những nhà kinh tế học xuất sắc nhất còn sống trên thế giới. 

Là một giáo sư công tác tại Học viện công nghệ Massachusetts MIT, ông là người đặt nền móng cho hệ tư tưởng kinh tế học thống trị nhiều nền kinh tế. Ông cũng là cố vấn cho một đội ngũ sinh viên hùng hậu gồm nhiều “ngôi sao sáng” đang ngồi ở các vị trí cấp cao và hoạch định chính sách của các nền kinh tế lớn. Có thể kể ra những cái tên nổi bật như Chủ tịch Fed Ben Bernanke, Chủ tịch NHTW Châu Âu ECB Mario Draghi và cựu chuyên gia kinh tế trưởng của Nhà trắng Greg Mankiw. 

Với vị thế là quan chức có vị trí quan trọng số 2 ở Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, ông đã giúp đỡ các nền kinh tế châu Á vượt qua khủng hoảng năm 1998. Với cương vị là Chủ tịch Citigroup, ông điều hành tất cả các công việc liên quan đến các khách hàng đến từ khu vực công. Khi đó, Citigroup là ngân hàng lớn nhất thế giới. 

Và, năm 2005, Phó Thủ tướng Israel Ariel Sharon cùng với Bộ trưởng Tài chính Benjamin Netanyahu đã chọn ông làm người dẫn dắt NHTW Israel – quốc gia mà trước đó ông mới chỉ đặt chân đến 1 lần. Tuy nhiên, những thành tựu mà Fischer đem lại là quá đủ để xua tan mọi nghi ngờ. Không có quốc gia phương Tây nào ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – 2009 tốt hơn Israel. Nền kinh tế Israel chỉ suy giảm đúng 1 quý (giảm 0,2% trong quý II/2009). Trong khi đó, kinh tế Mỹ suy giảm tới 4,6% trong cùng kỳ.  Tình hình ở rất nhiều quốc gia, trong đó có cả Anh và Đức, thậm chí còn tồi tệ hơn. 

Sẽ không phải là phóng đại khi cho rằng người Israel tôn sùng Stan Fischer. Sau khi ông thông báo về quyết định từ chức, phóng viên Meirav Arlosoroff của nhật báo Haaretz miêu tả Fischer là “vị lãnh đạo mà công chúng Israel hoàn toàn tin tưởng”.  Cả Bộ trưởng tài chính Netanyahu và vị lãnh đạo đối lập Shelly Yachimovich đều hết sức tự hào về ông.

Ở tuổi 69, Fischer dường như vẫn đang có sức khỏe tốt. Vào tháng 1/2014, người học trò Bernanke của ông sẽ rời khỏi chiếc ghế thống đốc Fed. Liệu Fischer có chuyển từ Jerusalem về Washington hay không? Điều này nghe có vẻ điên rồ nhưng cũng không phải không có tiền lệ. Tháng 11 năm ngoái, Thống đốc NHTW Canada Mark Carney đã chiến thắng trong cuộc đua và trở thành người lãnh đạo của NHTW Anh. Trong thời kỳ hậu khủng hoảng hiện nay, nước Mỹ cần tới 1 thống đốc NHTW hội tủ đầy đủ phẩm chất của 1 nhà kinh tế học đầy sáng suốt, một nhà quản lý, nhà ngoại giao và cả 1 chính trị gia. Fischer là ứng viên sáng giá cho vị trí này. 

San bằng khoảng cách

Stan Fischer được sinh ra tại Mazabuka, một thị trấn nhỏ ở miền Bắc Rhodesia (hiện là Zambia). 13 tuổi, ông chuyển tới Nam Southern Rhodesia (nay là Zimbabwe) và sống ở đây cho đến khi theo học tại Trường kinh tế London (LSE).  

Ban đầu, Fischer có ý định theo học ngành hóa học. Tuy nhiên, những năm tháng cuối cùng ở Zimbabwe giúp ông phát hiện ra kinh tế mới là niềm đam mê.  Anh trai của 1 người bạn của ông vừa trở về từ LSE và dạy cho ông một số bài học về kinh tế. Fischer thực sự ấn tượng với  Paul Samuelson — vị giáo sư nổi tiếng đã từng đạt giải Nobel của MIT. 

Cùng thời gian đó, Fischer đọc cuốn “The General Theory of Employment, Interest, and Money” (tạm dịch: Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ) của John Maynard Keynes. 

Sau đó Fischer tới MIT để học tiến sĩ, lấy bằng 3 năm sau đó và làm công việc trợ giảng tại đại học Chicago. Khi Fischer tới Hyde Park năm 1969, ông chứng kiến cuộc tranh cãi nảy lửa giữa 1 bên là các trường ở Chicago cùng các trường ở quanh khu vực Great Lakes (Carnegie Mellon hay đại học Minnesota) với 1 bên là các trường hùng mạnh ở ven biển như đại học California, Harvard, và đặc biệt là MIT. 

Mâu thuẫn bắt đầu khi Robert Lucas - một trong những đồng nghiệp của Fischer ở trường Chicago – lên tiếng chỉ trích học thuyết Keynes. Theo Lucas, trường phái kinh tế học Keynes đã phân chia kinh tế học thành 2 bộ phận: kinh tế vi mô và kinh tế học vĩ mô. Trong khi kinh tế học vi mô thừa nhận người tiêu dùng và các doanh nghiệp thực hiện các lựa chọn kinh tế với mục đích tối ưu hóa lợi ích của họ, kinh tế học vĩ mô cho rằng sự biến động của nền kinh tế chính là hệ quả của những lựa chọn từ các chủ thể trên. Khi người tiêu dùng và doanh nghiệp hoảng loạn ngừng chi tiêu, suy thoái kinh tế xảy ra. Một khi họ bình tâm lại, nền kinh tế sẽ phục hồi.  

Tuy nhiên, Lucas cho rằng điều này là vô nghĩa. Tại sao lựa chọn dễ biến đổi của các cá nhân lại có thể tạo nên sự thay đổi đối với toàn bộ nền kinh tế? Các học thuyết theo trường phái Keynes đã gặp nhiều khó khăn khi không giải thích được tình trạng nền kinh tế tăng trưởng chậm nhưng lạm phát lại ở mức cao của thời kỳ những năm 1970. 

Khi đó, Fischer là một trong số ít nhân vật có thái độ chân thành với cả 2 bên. Ông đang ở Chicago khi Lucas đưa ra những lời chỉ trích nhưng vẫn có Samuelson (giáo sư của MIT) trong hội đồng phản biện luận văn. Năm 1972, ông trở thành đồng nghiệp của Samuelson. Các sinh viên nhớ về Fischer với vai trò là nhà ngoại giao khá xuất sắc trong cuộc chiến này. 

Ngày nay, nỗ lực gắn kết cả 2 cách tiếp cận của Fischer được biết đến với tên gọi "kinh tế học Keynes mới". Đây là cách tiếp cận được sử dụng rộng rãi ở hầu khắp các viện nghiên cứu kinh tế trên thế giới. Học thuyết này cũng gắn liền với những tên tuổi nổi tiếng như Mankiw, Bernanke, chuyên gia kinh tế trưởng của IMF Olivier Blanchard... 

Fischer đã viết nên một trong số những nghiên cứu đầu tiên bao hàm cả yếu tố giá cả cứng nhắc và kỳ vọng hợp lý. Theo học thuyết này, vì thị trường có tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo, nên dù thị trường có biến động thì chưa chắc các doanh nghiệp đã thay đổi giá bán của mình. Lý do là chi phí để điều chỉnh thông báo về giá bán (giống như chi phí in lại thực đơn) có thể cao hơn lợi ích mà doanh nghiệp thu được do điều chỉnh giá. 

Cuối những năm 1970, ông đã giới thiệu cuốn "A Monetary History of the United States" (tạm dịch: Lịch sử tiền tệ nước Mỹ) cho nghiên cứu sinh đang được ông hướng dẫn làm luận văn tiến sĩ xem xét cuốn của 2 tác giả Friedman và Anna Schwartz. Cuốn sách này cho rằng đáng lẽ Fed đã có thể giảm bớt sức tàn phá của Đại khủng hoảng nếu như thực hiện chính sách tiền tệ quyết liệt hơn. 

Và, người nghiên cứu sinh ấy chính là Ben Bernanke. Bernanke cho biết nhờ Fischer mà ông nhận ra rằng chính sách tiền tệ đóng vai trò rất quan trọng. Và, vị Chủ tịch của Fed đã bơm hàng tỷ USD vào nền kinh tế lớn nhất thế giới để có thể tránh được kịch bản giống như đại suy thoái. Ông học được điều ấy từ Friedman và Schwartz, thông qua Fischer.
Theo Trí thức trẻ/Washingtonpost

Share:

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013

Mười một cách tìm ra khách hàng


http://www.blogchungkhoan.com/p/tu-van-dau-tu-chung-khoan.html

 Để có một sản phẩm hay dịch vụ tốt đến mức có thể chắc chắn rằng rất nhiều người cần đến nó, bạn phải nỗ lực rất nhiều.  Các khách hàng sẽ không thể tìm ra bạn hoặc trang web của bạn bởi vì bạn mới bắt đầu kinh doanh sản phẩm hay một dịch vụ nào đó. Thực sự là đa phần các chủ doanh nghiệp đều phải thường xuyên có những chuyến đi dã ngoại để tìm kiếm khách hàng và giữ gìn những mối quan hệ làm ăn với doanh nghiệp của mình. Nhưng bạn sẽ làm điều đó như thế nào? Dưới đây là một số những gợi ý để bạn có thể bắt đầu.

Phát triển một kế hoạch

Cân nhắc xem một khách hàng lý tưởng là ai.
Nếu như bạn bán hàng cho các doanh nghiệp, hãy cân nhắc xem phòng ban nào sẽ có khả năng mua sản phẩm hoặc dịch vụ cao nhất, và cá nhân nào (ở mức độ trách nhiệm nào) sẽ có thể là người đưa ra quyết định đặt mua các thiết bị. (Nếu bạn không biết, có thể gọi một vài cuộc điện thoại để thăm dò!). Sau đó, hãy cân nhắc xem liệu cá nhân đó có thể dễ dàng tìm ra sản phẩm hoặc dịch vụ giống như bạn cung cấp hay không? Họ đang tìm hiểu trong phạm vi nào?  Ai là người họ sẵn sàng muốn lắng nghe hoặc là họ tìm hiểu như thế nào khi họ muốn mua một sản phẩm / dịch vụ. Hãy tìm cách đưa thông tin của bạn vào con đường nhận thức đó của họ.

Nhận thức rằng đường đến thành công không phải chỉ có một

Việc kinh doanh thường diễn ra khi những khách hàng tiềm năng nghe được thông tin về sản phẩm và dịch vụ của bạn từ nhiều nguồn khác nhau và bằng nhiều cách thức khác nhau. Họ càng thường xuyên được nghe về bạn bao nhiêu, thì khi sẵn sàng mua sắm, họ lại càng muốn tìm hiểu bạn đang chào bán món hàng gì bấy nhiêu.

Làm việc với giới báo chí và các thông tin trên báo chí

Các tờ báo ngày và báo tuần là nguồn thông tin liên lạc hữu ích đến bất ngờ, có thể mang lại cho bạn rất nhiều khách hàng tiềm năng. Hãy tìm tên của những người đang được hưởng chế độ khuyến mại, những người đã giành giải thưởng, những người đã mở ra các doanh nghiệp mới. Họ có thể trở thành khách hàng tiềm năng. Hãy gửi các bức thư cá nhân tới những người này để họ biết những lợi ích mà họ có thể có khi mua sản phẩm của bạn. Cố gắng tham dự vào các cuộc gặp mặt nơi họ có thể xuất hiện. Khi gặp họ hoặc gửi thư, hãy cho họ biết rằng bạn đã đọc thông tin về họ và chúc mừng những thành công của họ hoặc hãy đề cập đến những bài báo viết về họ đã thú vị như thế nào.

Chờ đợi các sự kiện có thể mang lại thị trường tiềm năng cho bạn

Liên lạc với các nhà tổ chức sự kiện và đề nghị họ phát sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn như một giải thưởng cho khán giả tham gia sự kiện.
Đổi lại, bạn sẽ có được một nhóm quảng cáo về bạn trong các chương trình xúc tiến thương mại của họ.

Tham gia các cuộc họp và hội nghị hội thảo mà các các khách hàng tương lai của bạn có thể chú ý đến

Nếu bạn đã và đang làm điều đó mà vẫn chưa có được một liên lạc nào có thể mang lại thành công trong buôn bán, hãy tìm trong các tờ báo xem những đơn vị khác tổ chức các sự kiện như thế nào để có thể hấp dẫn được thị trường mục tiêu của bạn và tham gia vào các cuộc hội họp như thế nhiều hơn.

Theo đuổi sau cuộc họp

Liên hệ với những người bạn đã gặp gỡ để xem liệu họ có thể là khách hàng tương lai của bạn hay không.
Nếu như hiện thời họ chưa cần đến dịch vụ của bạn, thì hãy hỏi họ khi nào sẽ là thời gian thích hợp để mình gọi lại, hoặc là liệu họ có các đối tác kinh doanh mà có thể sử dụng sản phẩm của mình hay không.

Bỏ con săn sắt bắt con cá rô

Phát tặng một số sản phẩm mẫu miễn phí của bạn và đề nghị người nhận hãy thông tin cho bạn bè của họ nếu như sản phẩm của bạn làm cho họ hài lòng. Hoặc là, nếu như bạn là một nhà tư vấn, hãy đưa ra một số lời khuyên miễn phí. Lời khuyên này có thể dưới dạng mẫu một bản tin với nội dung là các thông tin hoặc các bí quyết và lời khuyên, hoặc cũng có thể là sự tư vấn miễn phí trong khi những gì bạn cung cấp chỉ là thông tin đủ để giúp khách hàng giới hạn dự án của họ và biết rằng bạn có khả năng xử lý nó.

Triển khai một mạng lưới cá nhân

Hãy hỏi bạn bè của mình xem họ có biết người nào có thể sử dụng dịch vụ của bạn không, hoặc có biết những người có thể cung cấp thông tin về một ai đó có thể sử dụng dịch vụ của bạn hay không. Nếu như cơ cấu giá của bạn cho phép, hãy đưa ra một mức phí hoa hồng dành cho bạn bè và các đối tác kinh doanh của bạn vì những giới thiệu của họ đã mang lại kết quả công việc tốt.

Học hỏi từ các đối thủ cạnh tranh

Quảng cáo ở những nơi mà đối thủ của bạn đang họat động  Khuyến mại các sản phẩm của bạn ở nơi mà đối thủ cạnh tranh của bạn đang xúc tiến các chương trình quảng cáo.

Sử dụng các quảng cáo nhỏ và đa dạng thay vì một quảng cáo lớn

Nếu như đa phần mọi người trong cùng ngành nghề kinh doanh với bạn quảng cáo để thu hút khách hàng, bạn cũng nên làm như thế. Nhưng hãy lên kế hoạch cho các chương trình quảng cáo với quy mô nhỏ hơn thay vì theo đuổi một kế họach quảng cáo đồ sộ. Sự lặp đi lặp lại sẽ dễ khiến người ta nhận diện được tên sản phẩm. Nếu như bạn quảng cáo trên các trang vàng, hãy cân nhắc việc đưa nội dung quảng cáo vào hàng tiêu đề của mỗi chỉ mục.

Hỏi ý kiến phản hồi khi các khách hàng tương lai không mua hàng

Khách hàng đã tìm được một sản phẩm đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của họ chưa?
Họ đã quyết định rằng mình hoàn toàn không cần đến sản phẩm đó chưa? Có phải là họ chỉ trì hoãn việc ra quyết định có hay không mua sản phẩm? Liệu có phải là họ cảm thấy khó khăn khi đặt hàng trên trang web của bạn? Hãy sử dụng tất cả những thông tin bạn có để thay đổi những gì cần thiết và hãy xem hoạt động kinh doanh của bạn bắt đầu khởi sắc lên.
 (Theo Businessknowhow) - 2008
Share:

Thất bại là một phần quan trọng và cần thiết trong quá trình đi đến thành công


Đương nhiên là có thất bại và thất vọng khi theo đuổi một mục đích lớn lao nào đó. Rất nhiều người không hiểu một sự thực rất giản đơn là không thể thành công được việc gì đáng kể ngay từ lần đầu tiên. Thất bại là một phần quan trọng và cần thiết trong quá trình đi đến thành công. Không có ai biết đi, biết đi xe đạp, xe máy hay lái ô tô ngay sau lần thử đầu tiên. Nguyên nhân cơ bản là do nỗi sợ thất bại mà phần lớn mọi người đều không đánh giá đúng ý nghĩa và thử thách của nó trong lần đầu tiên. Họ không chuẩn bị tư tưởng cho khả năng thất bại. Nhưng bạn sẽ không bao giờ thất bại trừ phi bạn chấp nhận thất bại là sự thực và không tiếp tục cố gắng nữa.
 
Lịch sử đã chứng minh thất bại rất quan trọng đối với thành công và thành công lớn luôn có thất bại lớn đi cùng. Càng làm thử nhiều bao nhiêu xác suất thành công càng lớn  bấy nhiêu.

Chi tiết tại đây (click vào chữ tại đây để tải file)


Share:

15 việc cần làm cuối năm

Vào dịp cuối năm, cũng như phần lớn các chủ doanh nghiệp khác, bạn sẽ có một danh sách dài những công việc cần phải giải quyết để đảm bảo hoàn thành các mục tiêu kinh doanh trong năm. 

Có thể chờ bạn là hai chồng tài liệu được đánh dấu “gấp” và “từ từ”; quyết định một số vấn đề liên quan tới các nhân viên đã được “xếp vào ngăn tủ”; cập nhập nội dung và hình thức cho trang web đang trở nên lỗi thời... Bạn cần gấp rút xử lý các công việc đó để khởi động năm mới.

Nếu bạn cảm thấy quá tải vì các công việc cần phải làm, hãy hít thở thật sâu và chậm rãi nghiên cứu từng vấn đề một.

Dưới đây là bản danh mục liệt kê 15 nhiệm vụ mà bạn cần quan tâm để giải quyết ổn thỏa trước khi năm mới đến:

1. Xem xét lại tất cả các hệ thống trong công ty từ trên xuống dưới 
 
Hãy thận trọng kiểm tra xem hệ thống nào hoạt động tốt hoặc không tốt, xác định rõ vấn đề nằm ở đâu để từ đó có cách thức giải quyết thích hợp. Bạn có thể tự mình khắc phục hay nhờ đến sự trợ giúp của bên ngoài. Có thể, bạn cần một chuyên gia kỹ thuật để giúp hệ thống công nghệ đạt hiệu suất cao hơn, hay là một chuyên gia tài chính để cải thiện hệ thống sổ sách kế toán.

2. Xem xét lại tất cả các hợp đồng kinh doanh của công ty 
 
Hãy dành thời gian để tính toán xem công ty của bạn đang giao dịch kinh doanh với bao nhiêu đối tác (các nhà thầu, nhà cung cấp...). Những hợp đồng đó có gì vướng mắc không, có hợp đồng nào còn chưa thực hiện xong? Liệu quan hệ trong hợp đồng có lợi cho cả bạn và đối tác không? Nếu không, đừng ngại tiến hành một vài thay đổi nào đó.

Mặt khác, nếu bạn cảm thấy hài lòng với các đối tác, hãy bày tỏ cho họ biết điều này. Họ sẽ cảm kích khi biết bạn dành thời gian quan tâm tới việc đảm bảo lợi ích cho cả hai bên. Và rất quan trọng, nếu bạn thể hiện rõ mong muốn của mình được là một đối tác kinh doanh thân thuộc của họ.

3. Xác định rõ ai là khách hàng tốt nhất 
 
Hãy xem xét tất cả các khách hàng của bạn thông qua thấu kính lợi nhuận. Rất có thể sau khi tiến hành công việc này, bạn sẽ thấy các khách hàng của mình phân thành những nhóm đem lại lợi nhuận khác nhau. Đương nhiên, bạn nên đối xử tuyệt vời với tất cả các khách hàng - nhưng khi bạn thấy rõ người tốt nhất là ai, thì sẽ hợp lý hơn nếu bạn đưa ra những đối xử ưu đãi đối với họ.

4. Tiếp xúc với những khách hàng tốt nhất 
 
Sau khi, bạn đã biết các khách hàng tốt nhất của mình là ai, hãy thể hiện với họ rằng bạn rất cảm kích vì sự quan tâm của họ đối với công ty. Đồng thời, bạn hãy hỏi xem liệu còn điều gì mình cần cải thiện để thỏa mãn các nhu cầu của họ. Việc này có thể được thực hiện thông qua các lá thư, bưu thiếp chúc mừng năm mới. Bạn có thể kèm thêm vào đó một món quà tặng nhỏ. Đây là là cách thức dễ dàng và nhanh chóng nhất để các khách hàng hiểu rằng bạn luôn quan tâm tới các nhu cầu của họ và động viên họ đưa ra những phản hồi mang tính xây dựng.

5. Tiến hành đánh giá công việc trong năm của các nhân viên 
 
Bạn hãy thảo luận với các nhân viên về những gì họ có thể làm để giúp đỡ công ty vận hành êm thấm hơn. Hãy tận dụng cơ hội này để tìm hiểu xem điều gì kích thích họ nhiệt huyết hơn với công việc. Nên nhớ: luôn thành thật với các nhân viên và dành thời gian để lắng nghe mối quan tâm của từng người một.

6. Đối xử với nhân viên như với các đối tác 
 
Bạn hãy tổ chức một buổi họp mặt cuối năm để mọi người có thể chia sẻ các ý tưởng của mình. Việc lắng nghe và thực thi các đề xuất của nhân viên là cách thức tuyệt vời khiến họ cảm thấy mình như một đối tác kinh doanh có giá trị của công ty. Điều này sẽ khuấy động lòng nhiệt tình của các nhân viên đối với công đang làm và động viên họ chăm chỉ hơn trong năm tiếp theo.

7. Tiến hành việc dọn dẹp công ty 
 
Đã đến lúc để giải thoát khỏi những thứ bạn không cần nữa. Tất cả mọi người đều thích làm việc trong một môi trường sạch sẽ. Hãy làm sạch cảnh quan, lúc đó sinh lực và sức sáng tạo của mọi người sẽ được nâng cao.

8. Nhìn nhận lại các chiến dịch tiếp thị 
 
Cuối năm là thời điểm thích hợp để nhìn nhận lại các nỗ lực tiếp thị của công ty, liệu chúng có phát huy hiệu quả như mong đợi hay không. Đừng ngần ngại tiến hành thay đổi nếu bạn thấy chưa vừa ý. Bạn cần nhớ rằng rất nhiều quảng cáo sẽ không còn hiệu quả theo thời gian. Vì vậy, hãy xem xét trước khi bạn bắt đầu tái sử dụng chúng trong năm tiếp theo.

9. Trau chuốt, hoàn thiện trang web của công ty 
 
Bạn cần có một vài thay đổi cho trang web nhằm khuyến khích mọi người vào xem nhiều hơn. Hãy đảm bảo rằng tất cả các mục thông tin trên trang web đều được cập nhập, và đăng bất cứ bài viết nào có liên quan tới hoạt động kinh doanh gần đây của công ty. Bạn cũng cần đặt trang web của công ty làm trang chủ của trình duyệt web trên máy tính của mình. Với cách này, mỗi lần bạn kết nối với Internet là một lần bạn có thể kiểm lại trang web của công ty. Đây là một cách thức nhắc nhở tuyệt vời để bạn không ngừng cập nhập và cải thiện trang web khi cần thiết.

10. Xem xét lại danh thiếp 
 
Cuối năm là dịp bạn trao danh thiếp kinh doanh tới tất cả mọi người: các khách hàng hiện tại, các nhà cung cấp, các nhà thầu khoán, các khách hàng tiềm năng... Vì vậy, hãy đảm bảo rằng thông tin trong danh thiếp kinh doanh luôn được cập nhập. Các số điện thoại, địa chỉ e-mail ghi trong đó đã đúng chưa? Bố cục của các (màu sắc và thiết kế) có thích hợp với bố cục của trang web cũng như của các văn bản giấy tờ kinh doanh khác hay không?

11. Xem xét lại việc đặt báo, tạp chí chuyên ngành định kỳ 
 
Bạn có thực sự đọc và nghiên cứu tất cả các tạp chí được đặt mua hàng tháng? Liệu bạn có để một vài chồng tạp chí cũ nằm đâu đó trong văn phòng làm việc (điều này có thể gây trở ngại khi sắp xếp
khoảng không gian làm việc). Bạn hãy huỷ bỏ việc đặt mua những tạp chí không có giá trị với mình. Nó không những chỉ giúp bạn tiết kiệm đáng kể tiền bạc mà phần nào đó còn giữ cho văn phòng làm việc được gọn gàng, sạch sẽ.

12. Quan tâm tới việc nâng cấp công nghệ 
 
Nếu bạn cần những chiếc máy tính hay một hệ thống điện thoại mới để giúp cho công việc diễn ra trôi chảy hơn, thì thời điểm cuối năm là thích hợp nhất cho những nâng cấp này. Việc này có thể tạo ra những khác biệt lớn trong công việc hàng ngày của các nhân viên. Với sự trợ giúp mới, họ có thể giảm thời gian vô ích dành để giải quyết những rắc rối như máy tính hỏng, mất các voicemails... và tập trung vào những công việc chính yếu. Song bạn cần đảm bảo rằng tất cả các nhân viên đều biết cách sử dụng thành thạo công nghệ mới.

13. Xem xét lại các chính sách bảo hiểm 
 
Thông thường các chính sách bảo hiểm được đặt và bị lãng quên cho đến khi những điều tồi tệ xảy ra. Lúc đó, rất nhiều chủ doanh nghiệp mới thấy rằng mình không có các kế hoạch bảo hiểm đúng đắn. Do vậy, bạn hãy dành thời gian để xem xét cẩn thận lại tất cả các chính sách bảo hiểm của công ty. Việc đảm bảo rằng công ty có những hợp đồng bảo hiểm thích hợp có thể giúp bạn tiết kiệm không ít tiền bạc về sau.

14. Cập nhật các sổ ghi biên bản công việc của công ty 
 
Nếu công ty của bạn có quy định ghi biên bản các hoạt động kinh doanh, thì chắc hẳn bạn sẽ muốn các cuốn sổ ghi được cập nhập đầy đủ - nó có thể giúp bạn tránh được khá nhiều vướng mắc trong tương lai.

15. Gặp gỡ, trao đổi công việc với nhân viên kế toán của bạn 
 
Cuối năm là thời điểm hoàn hảo để gặp gỡ các nhân viên kế toán và cùng lên kế hoạch cho các vấn đề thuế má và nhiều công việc tài chính khác. Hãy thảo luận với nhân viên kế toán về công việc cần làm nhằm hoàn thành sổ sách tài chính trong năm, thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, tính toán doanh thu và lợi nhuận...
Theo Business Worl/ NLĐ - 2006
Share:

9 công cụ gây dựng lòng trung thành của khách hàng

1/ Những tấm thiệp cảm ơn: Điều này ít được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức, mặc dù nó không đòi hỏi quá nhiều chi phí tài chính hay công sức. Tuy nhiên, đây lại là một trong những cách gây dựng mối quan hệ với khách hàng khá hiệu quả, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bạn hãy dành chút ít thời gian để khách hàng cảm thấy họ thực sự được bạn quan tâm và đối xử lịch thiệp.

2/ Gửi bản tin định kỳ: Nếu bạn nhắm tới những khách hàng mục tiêu, hãy thông báo cho họ các thông tin mới nhất về sản phẩm của công ty bạn. Ví dụ,định kỳ hàng tháng, bạn có thể gửi các catalogue cập nhật sản phẩm mới kèm thông tin chi tiết về giá cả hay các chương trình khuyến mại hoặc những chủ đề hữu ích khác để gây sự chú ý của khách hàng. Tuy nhiên, bạn đừng nên quá lạm dụng việc này để tranh thủ quảng cáo. Bạn hãy cung cấp những thông tin thực sự cần thiết cho khách hàng mà họ sẽ muốn dán trước tủ lạnh của họ. Ngoài việc gợi sự chú ý của khách hàng, bạn có thêm một lợi ích khác: đó là bất cứ khi nào khách hàng của bạn có khách ghé thăm nhà, họ sẽ thấy tên của công ty bạn trên các bản tin định kỳ đó. Và cũng có thể, trong các cuộc nói chuyện với bạn bè, họ lại làm lan truyền sang những người khác thông tin về công ty bạn, về sản phẩm của bạn. “Nhất cử lưỡng tiện”, bạn đã bắn một mũi tên mà có thể trúng nhiều đích.


3/ Cập nhập email: Hãy nghĩ tới việc thường xuyên cập nhập email của bạn kèm theo những “thông cáo báo chí” gửi tới khách hàng. Việc cung cấp cho khách hàng những thông tin cập nhập về sản phẩm mới, dịch vụ và các chương trình khuyến mại thông qua email ít nhất một tháng một lần sẽ tạo ra những cảm giác thân thuộc của khách hàng với công ty bạn. Không những thế, việc này còn giúp níu giữ khách hàng và khiến họ thích thú khi thường xuyên được liên hệ với bạn.


4/ Cùng ăn trưa hay uống cà phê với khách hàng quen: Sẽ thật sáng suốt nếu bạn tổ chức được những buổi nói chuyện thân mật ngoài công việc kinh doanh với các khách hàng thân thuộc của mình. Hãy hỏi về gia đình của họ, sở thích, mục tiêu cá nhân và ước mơ củ họ trong tương lai. Khi bạn cho các khách hàng thấy rằng bạn thực sự quan tâm tới họ về phương diện cá nhân, họ sẽ là những khách hàng trung thành nhất của bạn trong kinh doanh.


5/ Ghi nhớ ngày sinh nhật, kỷ niệm và những dịp đặc biệt khác của khách hàng: Những dịp này thường rất quan trọng đối với khách hàng của bạn cũng như đối với người thân và bạn bè của họ. Bạn hãy là một trong số ít các công ty thực sự ghi nhớ những dịp đặc biệt đó của khách hàng. Đổi lại, khách hàng sẽ khó lòng mà quên bạn. 


6/ Thăm hỏi khách hàng khi họ gặp khó khăn: Ví dụ, nếu nhận thấy rằng vợ của khách hàng bị ốm, bạn nên gọi điện hỏi thăm sức khoẻ của người bệnh. Khách hàng sẽ cảm nhận được sự ấm áp mà bạn đã chia sẻ cùng họ.


7/ Giúp đỡ khách hàng khi họ gặp khó khăn trong cuộc sống: Một trong những cách hữu hiệu nhất để gây dựng lòng trung thành của khách hàng là giúp đỡ họ không chỉ việc mua hàng mà cả những khó khăn khác trong cuộc sống riêng tư. Khi có cơ hội, hãy tìm hiểu thu thập mọi dữ liệu về khách hàng và nghĩ tới tất cả những ai bạn biết, làm những việc bạn có thể làm để giúp đỡ khách hàng.

8/ Tổ chức các buổi tiệc tại nhà của bạn: Thật đặc biệt nếu bạn tổ chức những bữa tiệc tại gia có sự tham gia của những khách hàng trung thành nhất. Bạn sẽ rất ngạc nhiên về những mối quan hệ thân mật, sự nhiệt tình và quý mến của khách hàng mà bạn có được khi mời khách hàng đến với cuộc sống riêng tư của bạn. Các khách hàng cũng tìm thấy những giá trị nhất định tại buổi tiệc này, chẳng hạn như nhiều cơ hội quen biết mới.


9/ Luôn để ý đến những thông tin phản hồi từ phía khách hàng: Hãy chứng minh rằng bạn luôn quan tâm đến chất lượng dịch vụ. Bạn có thể gọi điện cho khách hàng và hỏi các câu hỏi đại loại như: “Quý khách hàng có cảm thấy hài lòng với dịch vụ của chúng tôi?”, “Điều gì làm Quý khách hàng thích nhất khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ của chúng tôi?”, “Quý khách hàng muốn chúng tôi hoàn thiện những điểm gì?”... Nếu không có những thông tin này, có thể bạn sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc hoàn thiện sản phẩm và dịch vụ của mình. Ngoài ra, khi được hỏi về ý kiến đóng góp của mình, các khách hàng sẽ cảm thấy mình thực sự quan trọng đối với những gì bạn đang làm và vì thế sẽ trung thành hơn với sản phẩm, dịch vụ của bạn


Share:

6 bí quyết tăng cường khả năng quản lý

Những người giỏi chuyên môn không hẳn đã quản lý tốt. Cần rất nhiều kỹ năng và kiến thức để khuyến khích, đánh giá và điều hành một tập thể. Một nhà lãnh đạo không chỉ nắm rõ về công việc mà còn phải giao tiếp tốt - một kỹ năng không phải đến một cách tự nhiên. 
Có những nguyên tắc cơ bản để trở thành một nhà quản lý hiệu quả, Rich Moore, chuyên gia cấp cao tại Hiệp hội Quản lý AAIM ở Mỹ, nói. "Nhà quản lý hiệu quả nhất là người biết được tài năng của từng đối tượng và dành thời gian để tìm hiểu nhân viên của mình".

Sau đây là 6 cách để nâng cao kỹ năng quản lý cho mình.

1. Kiểm tra kiến thức bản thân

Đôi khi, biết được điều gì mình chưa biết là điểm tốt nhất để khởi hành. Kiểm tra lại những gì mình biết và không biết về việc quản lý. Xem xét lại những kinh nghiệm của mình và của những ông chủ trước đây. Điều gì là có lợi và điều gì cần thay đổi? Bạn có thể sẽ tìm ra được những tính cách tốt và xấu từ những ông chủ cũ và tận dụng kiến thức đó cho mình.

2. Tìm một người cố vấn dày dặn kinh nghiệm

Một bước quan trọng khác là tìm một người lãnh đạo có uy tín trong chỗ làm của mình. Theo dõi và cố gắng học hỏi những thói quen tốt từ người này.

3. Đi học trở lại 

Rất nhiều tổ chức cung cấp các khóa phát triển kỹ năng quản lý. Ngoài ra, có thể tham dự các hội thảo về quản lý với nhiều chủ đề như: Vai trò thay đổi thế nào khi trở thành nhà lãnh đạo? Làm thế nào để đàm phán? Làm sao để huy động nhân viên?

4. Đọc sách

Một cách khác để đưa việc phát triển kỹ năng quản lý vào trong tay mình là đọc các cuốn sách về kỹ năng điều hành. Có một số cuốn tham khảo như: First Break All the Rules: What the World's Greatest Managers Do Differently, tác giả Marcus Buckingham và Curt Coffman, Good to Great, tác giả Jim Collins, It's Your Ship: Management Techniques from the Best Damn Ship in the Navy, tác giả D. Michael Abrashoff, và One Minute Manager của Kenneth Blanchard.

5. Học cách lắng nghe và hiểu người khác

Bí quyết để thành công trong vai trò lãnh đạo là biết cách giao tiếp và đánh giá chính xác nhân viên của mình. Đó là phần thách thức nhất trong việc quản lý của nhiều nhà chuyên nghiệp khi ở trong tình thế chuyển từ một người bạn sang vị trí điều khiển. Khi thiết lập mối quan hệ với một tập thể mới, điều quan trọng là phải thẳng thắn và trung thực. Ngoài ra, đánh giá thực tế về khả năng làm việc của nhân viên và nói chuyện với họ về chất lượng công việc. Điều đó có nghĩa là không chỉ chấp nhận công việc đã được thực hiện mà yêu cầu nó phải được thực hiện tốt.

6. Đặt nhân viên của mình lên trên hết

Điều cuối cùng ở một nhà quản lý: nếu nhân viên của mình làm việc không hiệu quả, tức là bạn làm việc không hiệu quả. Một người lãnh đạo tốt là phải biết cách đào tạo, hỗ trợ và khích lệ nhân viên mình. Nếu bạn không dành thời gian hỗ trợ nhân viên và đảm bảo rằng mọi nhu cầu của họ được đáp ứng, tất cả công việc khác của bạn sẽ trở thành vô ích. Sau cùng, Moore nói: "Nếu bạn không phát triển được nhân viên của mình, bạn chẳng có gì cả".
M.T.-Vnexpress/ (theo MSN) - 2004

Share:

Thomas Barrack, “nhà tiên tri” bất động sản

Bằng tài thao lược của mình, Thomas Barrack đã có trong tay trên 2.000 dự án bất động sản tầm cỡ trên toàn cầu...


Là nhà sáng lập, Chủ tịch Hội đồng quản trị đồng thời là Tổng giám đốc điều hành Công ty tư nhân Colony Capital có trụ sở tại Los Angeles, California (Mỹ), Thomas J. Barrack, Jr. đã đầu tư cho bất động sản lên tới con số 38 tỷ USD.

Sau 17 năm hoạt động, Barrack đã phát triển Colony Capital thành tập đoàn đa quốc gia, mở rộng hoạt động tới 14 thành phố tại 11 nước, thu hút lượng nhân lực khổng lồ gồm hơn 30.000 nhân viên trên toàn thế giới.

Cho tới thời điểm hiện tại, bằng tài thao lược của mình, Thomas Barrack đã có trong tay trên 2.000 dự án kinh doanh tầm cỡ trên toàn cầu gồm các sòng bạc ở Atlantic City, Gulf Coast và châu Âu; các khách sạn hạng sang Raffles Hotel ở Singapore; khách sạn Fairmont ở Canada; khu nghỉ dưỡng Costa Smeralda ở Sardinia, Italia; chuỗi khách sạn Amanresorts ở London, Anh; khách sạn Stanhope Hotel ở New York...

Chân dung ông chủ Colony Capital
Thomas Barrack (tên thân mật là Tom) sinh năm 1947 trong một gia đình người gốc Do Thái nhập cư ở ngoại ô thành phố Los Angeles, Mỹ. Do hoàn cảnh  gia đình khó khăn, bố của Tom đã phải làm việc quần quật 18 tiếng mỗi ngày tại một cửa hàng tạp hóa gần nhà. Lớn lên trong hoàn cảnh đó, ngay từ  khi còn nhỏ, Tom đã rất chăm chỉ học tập và luôn thể hiện được tố chất thông  minh so với những bạn học cùng lớp.

Tốt nghiệp trung học, Tom vào học khoa luật của Trường đại học Nam California và nhanh chóng khẳng định được khả năng trong cả học tập lẫn thể thao với môn bóng bầu dục; cậu từng cùng đội tuyển của trường giành cúp vô địch trong khuôn khổ giải đấu sinh viên các trường đại học. Năm 1972, kết thúc chương trình học, Tom xin vào làm việc cho Công ty luật của Herb Kalmbach - nhà đại diện pháp lý của Tổng thống Richard Nixon.

Một thời gian sau, không như nhiều người khác, Tom không ngần ngại nắm bắt cơ hội khi vị trí đại diện pháp lý cho hai Hoàng tử Ả Rập còn trống. Bằng khả năng xuất sắc của mình, từ một sinh viên mới tốt nghiệp, Tom bắt đầu mở rộng được quan hệ với những nhân vật quan trọng và trở thành một trong những nhà trung gian có tầm ảnh hưởng khá lớn.

Trong hơn 4 năm làm việc tại nước ngoài, với vai trò là nhà thương thuyết, Tom đã giúp ký kết nhiều bản hợp đồng kinh doanh trị giá hàng chục triệu USD cho hai vị Hoàng tử Ả Rập, kèm với đó là những khoản hoa hồng hậu hĩnh cùng những kinh nghiệm kinh doanh quý giá cho cá nhân mình.

Năm 1976, Tom quay về Mỹ và lần lượt làm việc doanh nghiệp kinh doanh bất động sản của Lonnie Dunn và Watt. Tới năm 1984, Tom chính thức đặt chân vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản khi ông cùng với Bass góp vốn đầu tư vào một số dự án và thu về những khoản lợi nhuận lớn. Trong quá trình đầu tư, Tom thấy rằng thị trường bất động sản luôn thu hút sự tham gia của nhiều người. Tuy nhiên, vấn đề khó khăn mà hầu hết các nhà đầu tư đều gặp phải là sự hạn chế về nguồn vốn.

Vì vậy, năm 1990, dưới sự trợ giúp của Rogers, Bass, Eli Broad, Merrill Lynch, Rockefellers và gia đình dòng họ Koo người Hàn Quốc, Tom đã thành lập doanh nghiệp cung cấp vốn và kinh doanh bất động sản Colony Capital đặt tại Los Angeles. Dưới sự chèo lái tài tình của Tom, trong hơn 2 thập kỷ hoạt động, Colony Capital liên tục gặt hái được những thành công lớn và trở thành một trong những tên tuổi hàng đầu thế giới trong lĩnh vực bất động sản.

“Nhà tiên tri” trong lĩnh vực bất động sản
Trong ấn bản năm 2005, Forbes đã miêu tả Thomas Barrack như một “nhà kinh doanh bất động sản lớn nhất thế giới”. Có rất nhiều lý do khiến Thomas Barrack được giới kinh tế Mỹ và thế giới coi là ông trùm số một trong ngành kinh doanh này; một trong số đó là khả năng phán đoán nhạy bén đáng ngạc nhiên của Barrack trong việc đưa ra quyết định vô cùng sáng suốt trong những thời điểm nhạy cảm.

Về điều này, thậm chí tỉ phú Donald Trump - một người bạn của Tom - cũng từng phải thừa nhận: “Tom có một tầm nhìn chiến lược đến kỳ lạ trong lĩnh vực bất động sản, ông ấy có khả năng nhìn thấy trước được những gì sẽ diễn ra trên thị trường bất động sản trong khi những nhà kinh doanh khác là hoàn toàn không thể”.

Luôn tự tin vào khả năng đánh giá chính xác của mình, cũng trong năm 2005, khi hầu hết các nhà đầu tư bất động sản vẫn còn đang mải mê với các dự án kinh doanh lớn thì Tom lại là một trong những người tiên phong rúi lui khỏi thị trường. Lý do dẫn tới quyết định táo bạo này của Tom là ông đã nhìn thấy trước được sự phát triển “bong bóng” của thị trường bất động sản Mỹ.

Tom từng khẳng định: “Ngay khi phát hiện quả bong bóng ngày một lớn trên thị trường bất động sản, tôi đã thấy được nguy cơ nhãn tiền của sự suy thoái trong thời gian không xa và những điểm nóng của lĩnh vực bất động sản như Miami và Las Vegas sẽ là những nơi phải chịu thiệt hại đầu tiên".

Không dừng lại ở khả năng phán đoán tình hình, bất cứ khi nào nắm bắt được xu thế của thị trường, Tom cũng có thể đưa ra ngay được những chiến lược kinh doanh hoàn hảo. Cách đây không lâu, vào tháng 05 năm 2008, vẫn bằng tầm nhìn chiến lược của mình, Tom đã thấy trước được nguy cơ suy thoái trong lĩnh vực ngân hàng và bất động sản của Mỹ.

Tuy nhiên, khác với năm 2005, thay vào việc rúi lui, Tom lại đẩy mạnh các khoản đầu tư vào mua cổ phiếu tại Accor Group. Từ đầu năm 2005, Conoly Capital đã đầu tư vào Accor Group, tuy nhiên, trong một thời gian khá dài, Conoly Capital vẫn chưa nâng cao mức vốn đầu tư của mình tại Accor Group do gặp phải sự cạnh tranh quyết liệt của doanh nghiệp Eurazeo.

Khi nguy cơ suy thoái lĩnh vực ngân hàng và bất động sản năm 2008 mới chỉ manh nha, Eurazeo đã đầu tư và nâng số lượng cổ phiếu từ 1.640.000 lên 19.561.291, chiếm gần 10% cổ phiếu tại Accor Group. Nhanh chân không kém, Tom cũng đẩy mạnh việc tiến hành mua vào đối với cổ phiếu của Accor Group với mục đích nâng tỷ lệ nắm giữ cổ phần đối với tập đoàn này trong vài tháng, để đạt mức 20%, tương đương với 20.634.091 cổ phiếu và vượt lên trên đối thủ Eurazeo.

Tin tưởng vào khả năng phán đoán của Tom, sau khi Conoly Capital tăng cường đầu tư vào Accor Group, nhiều chuyên gia kinh tế đều có chung một nhận định, đó là “việc Conoly Capital nâng số lượng cổ phiếu tại Accor Group cho thấy Tom rất tin tưởng vào chiến lược, tiềm năng phát triển trong lĩnh vực bất động sản và đội ngũ quản lý tài năng của Accor Group”. Và thời gian sẽ giúp chứng minh cho nhận định sáng suốt của Thomas cũng như lời bình luận của các chuyên gia kinh tế.

Từng là đối tác kinh doanh của nhiều nhân vật nổi tiếng trong các dự án bất động sản lớn như Carraro, Soru và cả cựu Thủ tướng Italia Silvio Berlusconi, trong cơn suy thoái tài chính, ngân hàng và bất động sản của Mỹ năm 2008, không ai khác ngoài Tom đã cứu nguy cho ngôi sao nhạc pop Michael Jackson một “bàn thua” trông thấy với khu đất Neverland Ranch, ngoại ô Santa Barbara, California. Đề cập tới sự kiện này, nhiều tờ báo lớn hẳn là không quá lời khi cho rằng: “Michael Jackson đã được Conoly Capital giải nguy”.

Để mua khu đất Neverland rộng 2.500 mẫu, Michael Jackson đã vay khoản nợ 24,5 triệu USD của Công ty Financial Title Company. Tới tháng 5 năm 2008, do khó khăn về tài chính, “ông vua” nhạc pop không còn đủ khả năng trả khoản nợ khổng lồ đó và phải đứng trước nguy cơ bị Financial Title Company tịch thu Neverland Ranch.

Xác định giá trị của khu đất Neverland Ranch lớn hơn nhiều so với khoản nợ 24,5 triệu USD và có nhiều tiềm năng khai thác, Tom đã chủ động đàm phán để mua lại khoản nợ và trở thành chủ nợ mới của Michael Jackson với những điều kiện đàm phán “êm ả” hơn nhiều so với Financial Title Company.

Những bí quyết thành công
Kinh doanh bất động sản - một trong những lĩnh vực kinh doanh có tỷ lệ rủi ro rất cao, đặc biệt là vào những thời điểm nền kinh tế gặp khó khăn, cũng như khi nền kinh tế phát triển nóng.

Vì lý do đó, không ít những doanh nhân tài năng nhưng chưa đủ độ “quái” đã phải “ngậm đắng nuốt cay” chấp nhận thất bại thảm hại. Riêng với Tom, dường như ông được sinh ra để kinh doanh bất động sản; và những trở ngại trên thương trường, dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào cũng chỉ là những bước đệm để Tom khẳng định tài năng đích thực của mình trong lĩnh vực bất động sản của Mỹ và thế giới.

Cách đây không lâu, Conoly Capital đã “bật mí” những bí quyết kinh doanh của Tom và của doanh nghiệp trong suốt gần 2 thập kỷ qua. Theo đó, chiến lược kinh doanh của Tom là tranh thủ những thời điểm thị trường xuống để mua lại những khu đất có nhiều tiềm năng khai thác với giá rẻ và đợi cho tới khi thị trường lên sẽ bán ra với giá cao gấp nhiều lần.

Trong tất cả các công đoạn kinh doanh, Tom luôn hạn chế đến mức thấp nhất các khâu trung gian; thay vào đó, ông đều tự mình tiến hành một cách tỉ mỉ. Đặc biệt là ở bất cứ dự án nào, thời điểm nào, những khoản đầu tư của Tom cũng đều đảm bảo được hai yếu tố là quy mô lớn và khả năng thành công. Điều này được chứng minh qua lời khẳng định của Tom khi chia sẻ: “Tôi không bao giờ đầu tư vào những dự án vụn vặt và cho dù đó là thời điểm khó khăn nhất thì dự án đầu tư của tôi vẫn phải đảm bảo được tỷ lệ rủi ro ở mức thấp nhất”.

Lọc lõi trong kinh doanh, tinh tường trong các cơ hội đầu tư và rất mạnh trong mảng quan hệ, dù ở bất cứ dự án nào, Tom đều biết cách tận dụng tối ưu những thế mạnh của mình để giành chiến thắng. Theo Tom, “thị trường bất động sản luôn biến động và phức tạp, ẩn sau những khó khăn trước mắt vẫn là những cơ hội rất lớn đối với các nhà đầu tư. Vấn đề cốt lõi là nhà đầu tư có đủ khả năng để nắm bắt những cơ hội này hay không”. Bằng tầm bao quát của Tom, trên các thị trường bất động sản châu Á và châu Âu, Colony liên tục tiến hành thành công các bản hợp đồng béo bở.

Điển hình nhất là vào năm 2003, Tom đã khiến không ít người phải khâm phục khi ông chính thức giành quyền sở hữu khách sạn Costa Smeralda từ doanh nghiệp Starwood Hotels & Resorts với mức giá rẻ bất ngờ, 340 triệu USD. Được đánh giá là một trong những khách sạn hiện đại nhất thế giới, mức giá cho mỗi phòng nghỉ là 3.000 USD/đêm, Costa Smeralda có giá trị lớn hơn nhiều so với mức giá Tom thương thảo để được chuyển nhượng.

Nguyên nhân chính dẫn tới phi vụ chuyển nhượng bất ngờ này xuất phát từ việc Starwood Hotels & Resorts đưa vào triển khai dự án mở rộng khách sạn trên diện tích 4.000 mẫu dọc bờ biển nhưng không được chính phủ chấp nhận. Dự án thất bại, Starwood Hotels & Resorts gặp khó khăn về tài chính và buộc phải nhanh chóng chuyển nhượng Costa Smeralda cho Tom.

Không chỉ được biết tới là một tỷ phú tiền “Đô”, một nhà kinh doanh bất động sản tầm cỡ có một không hai, Tom còn rất nổi tiếng về khả năng quan hệ. Trong hầu hết các dự án kinh doanh tầm cỡ của mình, Tom luôn biết tận dụng một cách hiệu quả những mối quan hệ của mình, thậm chí, đôi khi là những tác động đối với giới chính khách và những nhà hoạch định chính sách.

Đáng kể nhất là dự án mua lại Starwood Hotels & Resorts. Không ít người đã nghi ngờ rằng Tom có sự tác động lớn đối với những nhà hoạch định chính sách để họ đưa ra những điều chỉnh có lợi cho ông. Tuy nhiên, thương trường không là gì khác ngoài sự tiềm ẩn những yếu tố rủi ro. Chính vì vậy, sự linh hoạt, khéo léo là điều tối cần thiết đối với một “ông trùm” ngành bất động sản như Tom.
Share:

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?

Follow by Email