Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2015

Nhà đầu tư quốc tế săn lùng đất ở Sài Gòn

Nhiều quỹ đầu tư, doanh nghiệp bất động sản quốc tế đang tìm mua đất sạch để chuẩn bị cho việc nhập cuộc vào thị trường bất động sản TP HCM trong năm 2015.
Đầu năm 2015, một quỹ đầu tư bất động sản đến từ Luxembourg đang đặt hàng nhiều đối tác nội địa săn lùng quỹ đất sạch tại các địa bàn quận 8, 9, Thủ Đức, Bình Tân, Tân Phú, Nhà Bè để phát triển nhà chung cư. Quy mô đất mà đơn vị này tìm kiếm có diện tích 3.000-30.000 m2, phân khúc được định vị là căn hộ vừa túi tiền, giá trên dưới một tỷ đồng.

Theo nguồn tin từ quỹ đầu tư này, ngoài việc tập trung săn quỹ đất sạch, đơn vị còn tìm kiếm các đối tác có tiềm lực trong nước để liên kết, hợp tác đầu tư địa ốc trên địa bàn TP HCM.

Trong báo cáo thị trường bất động sản TP HCM vừa công bố đầu tháng 1, CBRE Việt Nam đã điểm qua thương vụ Keppel Land mua khu đất dự án của Công ty Tiến Phước. Ngoài ra, có hai nhà đầu tư ngoại là Tung Shin và Lemograss Master Fund cũng đã lần lượt thâu tóm dự án Movenpick Sài Gòn (khách sạn) và Indochie Park Tower (căn hộ dịch vụ).

Trong tuần đầu tiên của tháng 1/2015, triệu phú địa ốc Kenvin Green (đang sở hữu 800 bất động sản các loại tại Anh) vừa có chuyến giao lưu, khảo sát và gặp gỡ đối tác hoạt động cùng ngành tại TP HCM. Là một trong những doanh nghiệp tiếp xúc với Kenvin Green, Chủ tịch Công ty địa ốc Khải Hoàn Land, Nguyễn Khải Hoàn cho biết, Kenvin Green tiết lộ không chỉ cá nhân ông mà các đối tác của tập đoàn cũng bắt đầu có sự quan tâm đặc biệt đến thị trường Việt Nam.

Cuối năm 2014, một quỹ đầu tư Nhật là Creed Group cũng đã công bố rót vốn mua cổ phần 3 dự án bất động sản của Công ty cổ phần đầu tư Năm Bảy Bảy. Đầu năm 2015, một trong các dự án này là City Gate (tại Đại lộ Võ Văn Kiệt, TP HCM) đã được tái khởi công nhờ nguồn vốn ngoại và chào bán sản phẩm ra thị trường.

Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Đất Xanh, Lương Trí Thìn nhận xét, bất động sản TP HCM nói riêng và Việt Nam nói chung đang được các nhà đầu tư quốc tế đặc biệt quan tâm trong vòng 6-12 tháng qua. Thị trường không chỉ đón các tên tuổi quen thuộc đến từ châu Á như: Nhật, Singapore, Hong Kong, Malaysia mà còn ghi nhận thêm không ít nhà đầu tư châu Âu, Mỹ với thương hiệu mới xuất hiện lần đầu, đang âm thầm quan sát và săn hàng.

Ông Thìn đánh giá, các thương vụ mua bán, sáp nhập, đầu tư, liên doanh liên kết trong lĩnh vực địa ốc đang có nhiều chuyển động mạnh dần. Chiều hướng tích cực thể hiện qua việc dòng vốn ngoại đổ vào bất động sản tăng lên. Chính sách nới lỏng đầu tư cho khối ngoại trong Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản sửa đổi cũng là cú hích tâm lý cho các nhà đầu tư ngoại. "Năm 2015, các giao dịch đất dự án sẽ được đẩy mạnh vì khi thị trường có dấu hiệu phục hồi, các nhà đầu tư phát triển địa ốc trong nước và quốc tế đều phải chuẩn bị trước quỹ đất để kịp bung hàng ra thị trường", ông dự báo.

Giám đốc điều hành CBRE Việt Nam, Marc Townsend phân tích, sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường địa ốc Việt Nam vẫn rất lớn, đặc biệt tập trung vào TP HCM và các đô thị lớn. Tuy nhiên, theo ông, hầu hết các giao dịch đầu tư vẫn gặp trở ngại liên quan đến giá cả khiến cho các thương vụ kéo dài thời gian. "Thị trường bất động sản Việt Nam cần nhiều cách tiếp cận thực tiễn và minh bạch hơn nữa để nhà đầu tư quốc tế hội nhập sâu rộng hơn", ông nhận xét.
Vnexpress
Share:

Nielsen: Người Việt thích tiết kiệm, ngại đầu tư

Trong số 6 nước Đông Nam Á, tỷ lệ người Việt thích sử dụng tiền nhàn rỗi để tiết kiệm cao nhất, trong khi mong muốn đầu tư lại thấp nhất.

Kết quả theo dõi hành vi người tiêu dùng vừa được hãng nghiên cứu Nielsen công bố cho thấy trong số 6 quốc gia châu Á được khảo sát, Việt Nam là nước người tiêu dùng thích tiết kiệm nhất. Có tới 77% người Việt dùng tiền nhàn rỗi của mình để tiết kiệm, cao hơn nhiều so với các quốc gia lân cận như Singapore (62%) hay Thái Lan (63%).

Trong khi đó, nhu cầu đầu tư chứng khoán, đầu tư vào các quỹ tại Việt Nam lại ở mức thấp. Chỉ có 18% người Việt được Nielsen khảo sát cho biết họ dùng tiền dư thừa để mua cổ phiếu hay rót vào các quỹ. Người dân 5 quốc gia Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan đều thích đầu tư hơn, với tỷ lệ từ 21% đến 33%.

Báo cáo của Nielsen cũng cho thấy, 86% người Việt đã thay đổi thói quen tiêu dùng trong 12 tháng qua theo hướng giảm chi tiêu trong gia đình vì lo ngại tình hình kinh tế chưa tốt lên. Để giảm chi tiêu, 60% người Việt cũng cắt chi phí giải trí bên ngoài gia đình.

Mặc dù vậy, niềm tin người tiêu dùng Việt vừa có quý tăng thứ ba liên tiếp. Trong quý cuối cùng của năm 2014, chỉ số này tăng 4 điểm trong nghiên cứu được Nielsen thực hiện ở 60 quốc gia. Với điểm số trên 100 thể hiện sự tự tin của người tiêu dùng, Việt Nam được đánh giá 106 điểm. Chỉ có 16 trên 60 quốc gia được khảo sát có mức điểm trên 100.

Trong số 10 nước nhận điểm niềm tin tiêu dùng cao nhất có tới 4 quốc gia Đông Nam Á gồm Indonesia, Thái Lan, Philippines, Việt Nam. Còn người tiêu dùng Malaysia vẫn tỏ ra kém tự tin về triển vọng kinh tế, giảm 10 điểm so với quý trước xuống 89 điểm.
Khảo sát của Nielsen về hành vi người tiêu dùng Việt Kết quả quý IV/2014 Thay đổi so với quý trước
Lòng tin người tiêu dùng 106 điểm Tăng 4 điểm
Tỷ lệ người tin rằng kinh tế đang suy thoái 58% Giảm 19%
Tỷ lệ người Việt dùng tiền nhàn rỗi để tiết kiệm 77%  Không đổi
Tỷ lệ người dùng tiền thừa mua quần áo 35% Không đổi
Một khảo sát khác của Nielsen cũng cho thấy, người Việt hiện nay yên tâm hơn về tình hình kinh tế. Có 58% người được hỏi cho rằng kinh tế đang trong suy thoái, giảm 19% so với kết quả quý trước.
Mặc dù vậy, tỷ lệ này vẫn cao hơn trung bình khu vực. Tính chung toàn châu Á Thái Bình Dương, tỷ lệ người dân vẫn còn nỗi lo suy thoái là 41%. Còn ở Trung Quốc, tỷ lệ này là 22% và Singapore là 27%. Khảo sát của Nielsen được thực hiện từ ngày 10 đến 28/11, phỏng vấn hơn 30.000 người tại 60 quốc gia ở tất cả các châu lục.
Khi được đề nghị chọn 3 nỗi lo lắng lớn nhất trong 6 tháng tới, đa số người Việt cho biết họ lo nhất về vấn đề sức khỏe, sau đó đến kinh tế và việc làm.
Vnexpress
Share:

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2015

1% người giàu nhất nắm giữ một nửa tài sản thế giới

Bất bình đẳng được cho là đe doạ đến tiến trình chống nghèo đói trên thế giới, làm ảnh hưởng đến đoàn kết dân tộc và chế độ dân chủ.
Bất bình đẳng là một vấn đề nổi cộm được cả thế giới quan tâm. Năm 2014 đánh dấu sự bùng nổ về hiện tượng bất bình đẳng qua những sự kiện như Chiếm lấy phố Wall tại Mỹ và lan rộng ra các nước châu Á.


Bất bình đẳng được cho là đe doạ đến tiến trình chống nghèo đói trên thế giới, làm ảnh hưởng đến đoàn kết dân tộc và chế độ dân chủ, nên nhiều biện pháp đã được cân nhắc và thực hiện với mục đích giảm thiểu hiện tượng này. Tuy nhiên, trước thềm hội nghị thường niên Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2015 tại Davos, Tổ chức Oxfam đã công bố một báo cáo mới về hiện tượng bất bình đẳng và cho thấy sự gia tăng không ngờ của nó. Thực trạng bất bình đẳng được khái quát qua 4 vấn đề như sau:

1. Phần lớn tài sản trên toàn thế giới tập trung vào một nhóm nhỏ

Theo báo cáo của Credit Suisse được trích dẫn trong báo cáo mới nhất của Oxfam, năm 2010 đánh dấu hiện tượng một phần lớn tài sản toàn cầu tăng lên mạnh mẽ tập trung trong 1% người giàu nhất.

Báo cáo mới nhất của Oxfam cũng chỉ ra rằng, trong năm 2014, 1% những người giàu nhất trong dân số toàn cầu sở hữu 48% tổng giá trị tài sản. Tuy nhiên, sự bất bình đẳng không chỉ dừng lại ở 1% và 99%, mà nó còn xảy ra trong nhóm 99%. 20% người giàu nhất trong nhóm 99% được cho là sở hữu 46,5% tổng giá trị tài sản và kết quả là 80% người trong số 99% còn lại chia sẻ chỉ 5,5% giá trị tổng tài sản trên toàn cầu.

Nếu xu hướng này tiếp tục, Oxfam dự báo cho đến năm 2016 sở hữu tài sản toàn cầu của 1% những người giàu nhất sẽ vượt qua 50% giá trị tài sản toàn cầu.

2. Chỉ số ít lĩnh vực kinh tế quan trọng mang lại giá trị tài sản vượt bậc gây nên hiện tượng bất bình đẳng

Chỉ có một số ngành kinh tế quan trọng góp phần tích lũy của cải của các tỷ phú trên toàn thế giới. Theo thống kê vào tháng 3 năm 2014, 20% trong số các tỷ phú đã thu nhận giá trị tài sản vượt bậc đã tham gia hoạt động, hoặc liên quan đến các lĩnh vực tài chính, bảo hiểm. Kể từ tháng Ba năm 2013, đã có 37 tỷ phú mới từ các lĩnh vực này. Sự giàu có về của cải tích lũy của các tỷ phú từ các lĩnh vực tài chính và bảo hiểm tăng từ 1 nghìn tỷ USD đến 1,16 nghìn tỷ USD trong một năm, mức tăng danh nghĩa là 150 tỷ USD, tương đương 15%.

Bên cạnh đó, thời gian từ giữa năm 2013 đến 2014 các hoạt động trong lĩnh vực dược phẩm và y tế mang lại sự gia tăng lớn nhất về của cải của nhóm giàu nhất. Sự giàu có của nhóm tỷ phú trong lĩnh vực này tăng từ 170 tỷ USD đến 250 tỷ USD, tăng 47% và đây là tỷ lệ gia tăng lớn nhất về giá trị tài sản trong các lĩnh vực kinh tế khác nhau trên danh sách của Forbes.

3. Các hành vi trục lợi như vận động hành lang hay bóp méo chính sách là nguyên nhân làm trầm trọng hơn sự bất bình đẳng

Các công ty trong ngành tài chính và dược phẩm đã chi hàng triệu USD trong năm 2013 để vận động hành lang cho các chính sách mang lại lợi ích cho họ.

Các công ty trong lĩnh vực tài chính, bảo hiểm và dược phẩm/y tế được cho là có nhiều hoạt động sử dụng các nguồn lực cho ảnh hưởng về kinh tế và chính trị biểu hiện qua việc vận động hành lang chính phủ, về các vấn đề chính sách có lợi cho họ.

Trong khi các tập đoàn từ các lĩnh vực tài chính và bảo hiểm dành nguồn lực vận động hành lang để theo đuổi lợi ích riêng của họ, và kết quả lợi nhuận của họ gia tăng cùng với sự giàu lên của các cá nhân tham gia vào lĩnh vực này, thì những người bình thường phải tiếp tục trả giá của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Các công ty từ các lĩnh vực dược phẩm và y tế đã chi hơn 500 triệu USD vào việc vận động các nhà hoạch định chính sách ở Washington và Brussels.

Trong cuộc khủng hoảng Ebola, ba công ty dược phẩm lớn là thành viên của Liên đoàn quốc tế các nhà sản xuất dược phẩm (IFPMA) đã thực hiện việc đóng góp lớn nhất cho nỗ lực cứu trợ Ebola, họ quyên góp được hơn 3 triệu USD bằng tiền mặt và thiết bị y tế. Trong khi đó, cũng chính ba công ty này được cho là đã chi trả hơn 18 triệu USD cho hoạt động vận động hành lang tại Mỹ trong năm 2013.

Như vậy, việc đầu tư chi phí tài chính khổng lồ vào các hoạt động vận động hành lang chỉ mang lại lợi ích cho nhóm 1% người giàu nhất trong khi những người còn lại phải đối mặt với vấn đề thiếu hụt chi phí cho các hoạt động cơ bản trong cuộc sống như giáo dục và y tế.

Các hoạt động kinh tế vận động hành lang nhiều nhất ở Mỹ thường tập trung vào chính sách phân bổ ngân sách và thuế. Các quyết định đầu tư được tính toán bằng cách chi hàng tỉ USD cho việc vận động hành lang thông qua tiếp cận trực tiếp với các nhà hoạch định chính sách và pháp luật ở Washington và Brussels. Các doanh nghiệp thực hiện hành vi này với hi vọng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh thuận lợi sẽ bù đắp chi phí vận động hành lang. Các chiến dịch vận động hành lang mang lại lợi ích cho doanh nghiệp nhưng gây nên nhiều hậu quả xấu cho xã hội. Đặc biệt vận động về các vấn đề thuế có thể trực tiếp làm suy yếu lợi ích công cộng.

4. Khuyến nghị về mặt chính sách làm giảm bất bình đẳng

Những năm tiếp theo theo dự đoán của tổ chức Oxfam vấn đề bất bình đẳng về thu nhập sẽ khó có thể thuyên giảm, bên cạnh đó chúng còn mang xu hướng gia tăng không ngừng đe doạ đến hoạt động chống lại đói nghèo, đoàn kết dân tộc và chế độ dân chủ trên toàn thế thới. Do đó, Oxfam cũng đã đưa ra 9 khuyến nghị đến các quốc gia trên thế giới nhằm làm giảm bất bình đẳng.

Thứ nhất, các chính phủ phải đưa ra các chính sách có lợi cho công dân của mình và làm giảm bất bình đẳng.

Thứ hai, tăng cường bình đẳng kinh tế và các quyền cho phụ nữ.

Thứ ba, đảm bảo một mức lương đủ tiêu chuẩn sống cho người lao động và thu hẹp khoảng cách về lương.

Thứ tư, chia sẻ gánh nặng thuế một cách công bằng.

Thứ năm, ngăn chặn hành vi trốn thuế quốc tế và tăng cường quản lí hệ thống thuế tốt hơn.

Thứ sáu, đến năm 2020 đạt được mục tiêu về các dịch vụ công cơ bản miễn phí.

Thứ bảy, thay đổi hệ thống nghiên cứu và phát triển từ đó bình ổn giá các loại thuốc để mọi người có nhu cầu đều có thể tiếp cận.

Thứ tám, thực hiện cách chính sachs bảo trợ xã hội cho người già, trẻ em và những người khó khăn trong xã hội.

Thứ chín, xây dựng hệ thống tài chính phát triển để làm giảm bất bình đẳng, xoá đói nghèo và nâng cao sự gắn kết giữa công dân và chính phủ.

Bất bình đẳng là một vấn đề nghiêm trọng đòi hỏi một sự phối hợp giữa các quốc gia trên thế giới và sự phối hợp chặc chẽ giữa chính phủ và công dân trong mỗi quốc gia, cải thiện tình trạng bất bình đẳng hiện nay sẽ góp phần xây dựng nguồn lực để giảm thiểu đói nghèo, tăng tinh thần đoàn kết dân tộc và củng cố nền dân chủ trên thế giới.
Share:

Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2015

Hình thái mới của nghề môi giới chứng khoán

Anh Minh từng là nhân viên môi giới chính thức của CTCK X, nhưng sau khi nghỉ việc, anh vẫn thực hiện hoạt động môi giới cho công ty này trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh và hưởng tỷ lệ hoa hồng. 

Hợp tác kinh doanh

Anh Minh chia sẻ, CTCK X thuộc Top 10 về thị phần môi giới, trả cho anh tỷ lệ hoa hồng 50% từ phí dịch vụ môi giới chứng khoán của khách hàng. Về nguyên tắc, khi một nhân viên môi giới nghỉ việc, các tài khoản của khách hàng sẽ được bàn giao lại cho môi giới khác phụ trách. Tuy nhiên, nếu nhân viên môi giới cũ đã tạo được mối quan hệ gắn bó với khách hàng và có đề nghị hợp tác kinh doanh, thì các CTCK thường lựa chọn hình thức hợp tác này, bởi công ty lo ngại khách hàng sẽ chuyển tài khoản sang CTCK khác.

Theo anh Minh, nhân viên chính thức được hưởng lương cố định và phần lương kinh doanh tính theo tỷ lệ phần trăm từ phí giao dịch của khách hàng. Tỷ lệ hoa hồng này thấp hơn tỷ lệ mà CTCK ký dưới hình thức hợp tác kinh doanh. Nếu doanh số đủ lớn thì mức chênh lệch giữa hoa hồng cho môi giới độc lập và môi giới chính thức có thể cao hơn lương cứng. Nhưng thông thường, phần lương cố định cộng với các phúc lợi xã hội khác của các CTCK cao hơn chênh lệch doanh số nói trên và điều quan trọng là có sự chắc chắn trong thu nhập hàng tháng. Bởi lẽ, không phải lúc nào thị trường cũng giao dịch sôi động.

Bên cạnh hình thức hợp tác với nhân viên cũ thì nhiều CTCK từ lâu đã có nhu cầu sử dụng môi giới độc lập. Chẳng hạn, từ năm 2010, CTCK FPT (FPTS) thực hiện chiến lược xây dựng đội ngũ môi giới độc lập rộng khắp, công việc của các môi giới này chủ yếu là tiếp xúc, tư vấn và phát triển khách hàng; tư vấn, hỗ trợ khách hàng trong việc sử dụng các dịch vụ giao dịch chứng khoán. FPTS yêu cầu, các môi giới độc lập đảm bảo kế hoạch phát triển khách hàng và hạn mức giao dịch theo chính sách chung của Công ty. Khác với CTCK X nêu trên, quyền lợi mà FPTS dành cho môi giới độc lập là hưởng mức thu nhập theo chính sách chung của Công ty, bao gồm lương hàng tháng và các khoản thu nhập theo hiệu quả hoạt động.

“Chân trong, chân ngoài”

Ngoài những môi giới độc lập thì có những người vừa là môi giới chính thức của một CTCK, vừa cộng tác với CTCK khác.

Kể từ khi một NĐT được phép mở tài khoản tại nhiều CTCK thì việc các CTCK có chung khách hàng không phải là chuyện hiếm. Lý do NĐT mở nhiều tài khoản là nhằm tận dụng báo cáo phân tích của các CTCK có lợi thế tại một số doanh nghiệp niêm yết nhất định. Ngoài ra, NĐT sử dụng margin sẽ có sự linh động khi CTCK hết hạn mức margin cho một mã chứng khoán nhất định (theo quy định, tối đa là 5% khối lượng lưu hành của cổ phiếu đó), hay ngừng cấp mới cho vay margin do không còn tiền, tỷ lệ cấp margin với cùng một mã cổ phiếu giữa các CTCK là khác nhau.
Vì vậy, một số nhân viên môi giới đang làm việc tại một CTCK, nhưng hợp tác với một vài CTCK khác để phục vụ những khách hàng có nhiều tài khoản. NĐT dù mở tài khoản tại nhiều CTCK nhưng vẫn chỉ cần giao dịch với một môi giới.

Theo quy định, một môi giới chứng khoán chỉ có thể làm chính thức tại một CTCK và phải có chứng chỉ hành nghề do UBCK cấp. Tuy nhiên, do nhu cầu mở rộng hoạt động và thu hút khách hàng nên nhiều CTCK cần tới các môi giới độc lập, thậm chí một bộ phận nhân viên môi giới chính thức không có chứng chỉ hành nghề.

Trong tuần cuối cùng của năm 2014, UBCK ban hành hai quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với CTCK IB và CTCK TP. HCM do bố trí người chưa có chứng chỉ hành nghề thực hiện nghiệp vụ. Trước đó, ngày 18/7/2014, CTCK VNDirect bị xử phạt vì lỗi tương tự.

Thực tế, NĐT không quan tâm nhân viên môi giới đã có chứng chỉ hành nghề hay chưa, điều họ quan tâm là môi giới tư vấn, chăm sóc khách hàng như thế nào, tìm kiếm cổ phiếu, thông tin ra sao. Ở TTCK Mỹ có câu nói: “Không có đại học nào tốt bằng đại học Wall Street”, với hàm ý nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc học hỏi từ những trải nghiệm thực tế trong công việc của những người hành nghề môi giới chứng khoán.

Tuy nhiên, chứng chỉ hành nghề chứng thực cho một người đã được học cả về nghiệp vụ lẫn đạo đức để tham gia một ngành nghề. Với nghề môi giới chứng khoán, đây là nghề cần tới những kiến thức sâu rộng về chứng khoán nói riêng và thị trường tài chính nói chung, cũng như đạo đức nghề nghiệp để tư vấn cho khách hàng đầu tư an toàn, hiệu quả. Môi giới không có chứng chỉ hành nghề, NĐT dễ gặp rủi ro lớn.
Đầu Tư Chứng Khoán
Share:

Đầu tư cổ phiếu: Chán ngân hàng, quay sang BĐS

Thị trường chứng khoán đang bước vào những phiên điều chỉnh sau chuỗi tăng điểm liên tục. Thay vì “ôm” cổ phiếu ngân hàng, giới đầu tư đã chán và “đổi khẩu vị” sang nhóm chứng khoán, bất động sản, dầu khí. 

Hiện, nhóm cổ phiếu ngân hàng như VCB, MBB, BID.. vẫn duy trì xu hướng dẫn dắt thị trường và hỗ trợ tích cực cho các phiên tăng điểm như từ đầu năm đến nay. Bên cạnh đó, sự phục hồi trở lại của giá dầu thế giới đã giúp cho nhóm cổ phiếu dầu khí có dấu hiệu tích cực trở lại, đặc biệt là hai mã trụ cột là GAS, PVD.

Tuy nhiên, dòng tiền luân chuyển trên thị trường đã chuyển hướng vào nhóm cổ phiếu quy mô trung bình và nhóm cổ phiếu có tính đầu cơ cao như KLF, FLC, SCR, KLS, SHS. Sự dịch chuyển này giúp giao dịch ở nhóm này trở nên sôi động hơn và thanh khoản những mã cổ phiếu này tăng mạnh. Một diễn biến khác minh chứng cho sự luân chuyển trong dòng tiền trên thị trường là hầu hết các mã cổ phiếu lớn đều giảm điểm. Cụ thể như nhóm cổ phiếu ngân hàng và dầu khí đã xuất hiện những tín hiệu đầu tiên của sự điều chỉnh.

Các mã thuộc ngành bất động sản và chứng khoán như DIG, DXG, DLG, SSI, HCM…bắt đầu thu hút dòng tiền. Mã bất động sản đáng chú ý tuần qua là DLG của Tập đoàn Đức Long Gia Lai với khối lượng giao dịch đột biến hơn 9,5 triệu cổ phiếu ở sát mức giá trần 11.600 đồng/cổ phiếu. Sự tích cực này có thể xuất phát từ thông tin tập đoàn này đặt mục tiêu kế hoạch kinh doanh khả quan năm 2015 và hoàn thành việc phát hành 500 tỷ đồng trái phiếu không chuyển đổi có tài sản đảm bảo.

Tương tự, mã KBC của Tập đoàn Kinh Bắc được dự báo là sẽ đưa vào rổ tính chỉ số VN30 để thay thế cho khả năng 2 mã ngân hàng sẽ bị loại khỏi danh sách này do tụt hạng về chỉ tiêu thanh khoản trung bình 6 tháng. Tập đoàn này cũng vừa hoàn thành đợt phát hành riêng lẻ 1.200 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi cho 06 nhà đầu tư, gồm 02 tổ chức nước ngoài và 04 tổ chức trong nước.

Nhận định về xu thế dòng tiền giai đoạn hiện nay, Công ty Chứng khoán BIDV (BSC) cho rằng điểm tích cực là dòng tiền vẫn đang chạy luân phiên giữa các nhóm, mã cổ phiếu. Áp lực chốt lời ngắn hạn có thể xuất hiện nhưng chưa thực sự đáng lo ngại. Bên cạnh đó, cơ hội vẫn mở ra tại các mã chưa tăng nhiều so với mặt bằng thị trường. Cùng quan điểm về sự tích cực của nhóm ngân hàng, các chuyên gia phân tích của Công ty Chứng khoán VNDirect – VND vẫn đặc biệt quan tâm vì nhóm này vẫn được dòng tiền thị trường chú ý. Cổ phiếu chứng khoán và bất động sản cũng là những lựa chọn tốt để mua khi thị trường điều chỉnh.

Các chuyên gia tỏ ra lưỡng lự về xu hướng tăng điểm trở lại của thị trường trong thời gian tới. Ông Fiachra Macana, Giám đốc điều hành - Phụ trách nghiên cứu của Công ty chứng khoán TPHCM (HSC) vẫn nghi ngờ về động lực của đợt tăng ngắn hạn hiện tại khi chỉ số VN-Index chạm phải mốc kháng cự mạnh là 590 điểm. Theo chuyên gia này trước mắt thị trường không còn khả năng tăng nhiều nhưng đồng thời rủi ro giảm cũng khá nhỏ.

Niềm tin của nhà đầu tư về nới thời hạn hiệu lực Thông tư 36 (từ 1/2/2015) đã giảm xuống mạnh sau khi NHNN tuyên bố sẽ không hoãn thời hạn hiệu lực của Thông tư này. Các CTCK nhận định: Thông tư 36 vẫn ảnh hưởng mạnh tới tâm lý của nhà đầu tư trong ngắn hạn và có thể e ngại dẫn đến bán tháo. Tuy nhiên trong một diễn biến mới, đang có thông tin cho rằng rất có thể “cơ hội” lùi 36 vẫn còn?!.
 Theo Phương Lam
Tiền Phong
Share:

Đam mê + sáng tạo = thành công

Câu chuyện của Vy và Saigon Juice chứng minh cho công thức: đam mê + sáng tạo = thành công. 

Lấy ngắn nuôi dài

Rời bỏ môi trường làm việc chuyên nghiệp, cất đi tấm bằng đại học, không quan tâm đến những lời khuyên cũng như phản đối từ phía gia đình, Võ Tường Vy quyết định thực hiện giấc mơ giản dị là kinh doanh ẩm thực, lĩnh vực cô đam mê từ nhỏ. Ba tháng sau khi gia nhập thương trường, đã có đến 3 lời đề nghị Vy cho nhượng quyền thương hiệu Saigon Juice. Câu chuyện của Vy và Saigon Juice chứng minh cho công thức: đam mê + sáng tạo = thành công.

Đến thăm Saigon Juice vào một chiều đầu tuần. Đi theo con hẻm bên hông Trường Tiểu học Thiên Hộ Vương ở quận 10, quán nằm khiêm tốn cuối hẻm với kiểu kiến trúc mở để khách có thể quan sát những sinh hoạt thường nhật diễn ra trên sân khu chung cư cao tầng phía đối diện.

Cũng là sinh tố, bánh flan, yaourt, cà phê... như bao quán giải khát khác, hà cớ gì Saigon Juice trở thành từ khóa được tìm kiếm rất nhiều trong tháng vừa qua? Câu trả lời là Jelly Kiss - sinh tố ăn luôn ly, một món giải khát lạ từ vị giác đến thị giác.

Trong một chiếc ly làm từ rau câu là món sinh tố hỗn hợp ngon miệng. Thực khách vừa uống sinh tố, vừa nhấm nháp "chiếc ly" đẹp mắt với giá chỉ 13.000 đồng. "Đây mới là giá dùng thử, giá thành sản phẩm đã trên mức giá này", Võ Tường Vy, cô chủ của Saigon Juice, chia sẻ.

Gia đình từ Quảng Ngãi vào TP.HCM lập nghiệp. Như rất nhiều cô gái tỉnh lẻ khác, Vy cũng lập thân bằng con đường học đại học, ra trường, kiếm việc làm, giải quyết nhu cầu cơm áo gạo tiền. Bốn năm phụ trách nhân sự cho một doanh nghiệp nước ngoài, môi trường công sở giúp Vy trưởng thành hơn rất nhiều nhưng cô gái này vẫn luôn cảm thấy chưa thỏa mãn.

Vy tâm sự: "Ước mơ từ ngày nhỏ của tôi là kinh doanh ẩm thực, nhất là ẩm thực miền Trung. Tôi nghĩ, Sài Gòn thích hợp để tôi thực hiện ước mơ này". Và đi làm để tích cóp vốn khởi nghiệp là con đường Vy đã chọn.

Với mục đích như thế nên khi đã có chút ít vốn, cùng một người bạn, Vy bắt tay hiện thực hóa giấc mơ. "Có lẽ vì chưa đủ duyên nên người đồng hành cùng tôi đã bỏ cuộc", Vy kể. Quyết định đi tiếp con đường, Vy một mình thuê nhà thầu trang trí, tìm kiếm nguyên liệu, xây dựng kênh bán hàng...
Vẫn áp dụng thực đơn truyền thống như các quán sinh tố giải khát khác nhưng riêng ở Saigon Juice, Vy giới thiệu dòng sản phẩm Healthy Juice là những thức uống làm từ các loại củ, quả tốt cho sức khỏe như: cần tây, củ sắn, cà chua, cà rốt, cải bó xôi... để phục vụ khách hàng có nhu cầu chăm sóc sức khỏe đặc biệt.

Đi từng bước chậm

Đoán biết nỗi khổ chung của kinh doanh ẩm thực là những ngày đầu thường ít khách, Tường Vy đầu tư cho kênh bán hàng trực tuyến để đảm bảo đầu ra cho sản phẩm. Vừa đầu tư web, vừa lập Facebook, tổ chức hệ thống nhận đơn hàng, giao hàng..., Vy hướng đến đối tượng khách hàng là dân văn phòng.

Thông qua những mối quan hệ cá nhân Vy có được từ những ngày làm công sở, tiếng lành đồn xa, khách hàng đến với hệ thống bán hàng trực tuyến của Saigon Juice ngày một nhiều hơn.

Để chăm sóc đối tượng khách hàng này, Vy chấp nhận giảm lợi nhuận, miễn phí giao hàng cho những đơn hàng 100.000 đồng trở lên. Nhờ vậy mà lượng khách mua hàng trên mạng của Saigon Juice ổn định ngay từ những ngày đầu.

"Cái khó của người chân ướt chân ráo kinh doanh như tôi là việc quản trị”, Vy chia sẻ. Nhân lực ban đầu của Saigon Juice chỉ 5 người nhưng đối tượng làm việc lại hoàn toàn khác với nhân lực nơi công sở. Áp dụng kinh nghiệm quản trị có được sau thời gian làm ở công sở vào doanh nghiệp của mình, Vy gần như hụt hơi vì sự khác biệt.

Vy kể: "Dù bán hàng trực tuyến hay theo phương thức truyền thống thì tôi vẫn đòi hỏi nhân viên phải mang đến cho khách chất lượng dịch vụ chuẩn mực. Việc huấn luyện nhân viên thời gian đầu cũng rất khó”. Hiểu được những điểm khác biệt giữa mình và nhân viên, Vy bắt đầu điều chỉnh.

Lúc này, Vy tận dụng lợi thế ăn nói nhỏ nhẹ, dễ thương của mình để tìm hiểu đời sống nhân viên, chia sẻ và đồng cảm với họ. Những khi giữa các nhân viên phát sinh mâu thuẫn, Vy không ngại bỏ thời gian dàn xếp cho họ ngồi lại với nhau, cùng tìm hướng giải quyết. Nhờ vậy mà công tác quản trị nhân lực mới đi vào nề nếp.

Ổn định nhân lực, kênh bán hàng rồi Vy mới đầu tư phát triển sản phẩm. Yêu cầu phải có sản phẩm độc đáo, mới lạ để có thể tạo dấu ấn với khách hàng được Vy đặt ra. Lúc này, ký ức về những ngày còn bé với món khoái khẩu là rau câu mẹ làm trở thành định hướng cho Vy.

Mấy tháng ròng, Vy loay hoay với nguyên liệu tự nhiên là rau củ, hoa trái... để làm ra những chiếc ly bằng rau câu. "Làm ra được chiếc ly đủ cứng để chứa được sinh tố nhưng vẫn đủ mềm, dai để khách thưởng thức tưởng dễ nhưng lại cực khó”, Vy tiết lộ. Đáng mừng là sáng tạo của Vy được thực khách đón nhận nhiệt tình.

Quá trình thử nghiệm, mỗi ngày Saigon Juice sản xuất tầm 100 suất Jelly Kiss nhưng vẫn không đủ phục vụ. Ban đầu chỉ có 3 loại "ly" là xanh (lá dứa), đỏ (củ dền) và sơn thủy (nước cốt dừa và lá dứa), đến nay Vy đã cho ra đời thêm trắng (nước cốt dừa).

Khách hàng tìm đến ngày một nhiều, cùng với những lời đề nghị nhượng quyền thương hiệu đầy hấp dẫn. Vy thú nhận: "Vẫn biết đó là cơ hội để tăng hiện diện cho Saigon Juice nhưng tôi vẫn chưa thể nhận lời".

Cô chủ kỹ tính muốn Saigon Juice phải thật quy củ, thật bài bản... rồi mới tính đến chuyện nhân rộng mô hình. "Phải làm tốt và chỉn chu từ cái nhỏ nhất mới có thể làm tốt cái lớn hơn. Mục tiêu tôi hướng đến vẫn là chuỗi quán ăn và giải khát mang đặc thù miền Trung quê mình", Vy bảo vậy.

Theo ĐẶNG QUÝ YÊN
Doanh nhân Sài Gòn
Share:

Con người – Yếu tố đầu tiên quỹ đầu tư chọn dự án start-up

“Khi chọn một công ty để đầu tư, điều đầu tiên chúng tôi nhìn vào là con người – nhóm thực hiện, sau đó mới đến sản phẩm và thị trường. Chúng tôi muốn nhìn thấy team này có sự cống hiến hết mình...” 

Đây là chia sẻ của ông Moshe Sarfaty – nhà sáng lập và đồng sở hữu Quỹ Đầu tư mạo hiểm Krypton (Krypton Venture Capital) tại Hội thảo “Israel - From stones to a world changer” (tạm dịch: Israel – Từ hòn đá đến người thay đổi thế giới”.

Kết nối với hội thảo bằng Skype từ Tel Aviv (Israel), nhà sáng lập của quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capital – VC) sở hữu 1,2% tỷ lệ truy cập Internet trên toàn thế giới cho biết: “Chúng tôi đang nhắm tới các doanh nghiệp B2C, có đội ngũ sẵn sàng gắn kết, có sản phẩm trên thị trường và được chứng minh bởi thị trường”.

B2C là từ viết tắt của Business-To-Customer – Doanh nghiệp tới khách hàng, là mô hình thương mại điện tử giao dịch giữa công ty (Business) và người tiêu dùng (Customer).

Đầu tư vào Start-up, nhìn Con người, Ý tưởng, Công nghệ...

Ông Moshe cho biết, khi Krypton VC chọn một công ty để đầu tư, điều đầu tiên là nhìn vào con người – nhóm thực hiện - của công ty đó, sau đó mới đến sản phẩm và thị trường. “Chúng tôi muốn nhìn thấy team này có nhiều hơn 1 người và có sự cống hiến hết mình cho công ty” – ông Moshe nói.
“Khi cân nhắc đầu tư vào công ty, chúng tôi xem xét cả về mặt công nghệ cũng như ý tưởng. Đối với công ty B2C, công nghệ không phải là tất cả, mà là team thực hiện và quá trình thực hiện sản phẩm”.

Một yếu tố nữa được ông Moshe nhắc tới là yếu tố toàn cầu hóa: Các dự án khởi nghiệp (Start-up) cần có ý tưởng hướng tới thị trường toàn cầu.

Lãnh đạo Krypton cho biết, khi tìm được công ty đầu tư, ngoài việc đầu tư tiền, Krypton sẽ đầu tư về hình ảnh và truyền thông, giúp các đơn vị khởi nghiệp nhanh chóng đưa sản phẩm của mình ra thị trường.

Quá trình đầu tư của Krypton diễn ra chớp nhoáng. Khi tìm được công ty, ngay lập tức Krypton ký hợp đồng đầu tư tài chính và truyền thông cho công ty, đưa sản phẩm của công ty ra thế giới để xem phản ứng.

“Nếu sản phẩm nhận được phản ứng tích cực từ người tiêu dùng, chúng tôi tiếp tục đầu tư và đẩy mạnh công ty trở thành công ty triệu USD. Ngược lại, chúng tôi sẽ kết thúc đầu tư” – ông Moshe thẳng thắn.

Ông cũng cho biết, Krypton đã đầu tư cho hơn 10 công ty vào năm ngoái. Và năm nay, Krypton mong đợi sự đầu tư tiếp theo sẽ dành cho 1 công ty Việt Nam.

VC của Việt Nam ở đâu?

“Nhiều bạn gặp chúng tôi nói là có công nghệ, ý tưởng, nhưng không biết đến đâu để học khởi nghiệp. VC thì rất khó. Đâu phải Start-up nào cũng được VC đầu tư. Trong khi đó, chúng tôi lại gặp rất nhiều các nhà đầu tư cá nhân, tổ chức và họ bảo chúng tôi là rất khó để tìm Start-up có chất lượng cao để đầu tư” – bà Phan Hoàng Lan – chuyên viên của Cục Phát triển thị trường và Doanh nghiệp khoa học công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ - cho biết.

Bà Lan cho biết trong lĩnh vực đào tạo cho các Start-up, Trung tâm đào tạo và hỗ trợ phát triển thị trường trực thuộc Cục đã triển khai 20 khóa đào tạo tại các địa phương về hỗ trợ khởi nghiệp.
“Bản thân Cục Phát triển thị trường và Doanh nghiệp khoa học công nghệ đang chủ trì đề án Thương mại hóa Công nghệ theo mô hình thung lũng Silicon ở Việt Nam. Năm ngoái, chúng tôi đã đào tạo trong 1 BA (Chương trình thúc đẩy khởi nghiệp – PV) gồm 9 Start-up. Năm nay, chúng tôi sẽ tổ chức 4 BA như vậy: 2 ở Hà Nội và 2 ở TPHCM, để tiếp tục hỗ trợ các Start-up làm thế nào để thành công” – bà Lan cho biết thêm.

Theo đề án trên, bên cạnh việc được hỗ trợ về đào tạo, các Start-up đc chọn vào BA sẽ được nhận 10.000 – 15.000 USD để bắt đầu đầu tư.

Ngoài việc đào tạo, Cục cũng sẽ tổ chức các sự kiện kết nối các nhà sáng lập – những bạn cùng ý tưởng, cùng mong muốn lập nghiệp – với nhau, những nhà cố vấn, các Mentors (người hướng dẫn)...
Cũng với mục tiêu kết nối và hỗ trợ các Start-up tại Việt Nam, bà Vũ Kim Hạnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ Doanh nghiệp (BSA) – một trong 3 đơn vị tổ chức cuộc thi “Khởi nghiệp cùng Israel 2014” cho biết, sẽ thành lập Câu lạc bộ Những thiên thần đầu tư vào năm 2015.
 Theo Trí Thức Trẻ
Share:

Thứ Năm, 22 tháng 1, 2015

Chàng trai mắc chứng khó đọc làm giàu từ tuổi 13

Ollie bắt đầu kinh doanh từ năm 13 tuổi, anh mở một cửa hàng trên Internet có tên là Ollie’s shop.
Đối với nhiều người trẻ khác thì trở thành tỷ phú chỉ là ước mơ nhưng đối với Ollie Foryth, đó là hiện thực không mấy xa vời. Ollie Foryth hiện đang học tại Học viện The Peter Jones Enterprise, là một doanh nhân trẻ 17 tuổi, Ollie đang cố gắng đánh dấu một cột mốc vĩ đại vào năm 20 tuổi.

Ollie bắt đầu kinh doanh từ năm 13 tuổi, anh mở một cửa hàng trên Internet có tên là Ollie’s shop. Ngay trong năm đầu tiên, doanh thu đã hơn 13,000 bảng (tương đương 420 triệu đồng Việt Nam). Sau năm đầu tiên, lợi nhuận cứ thế tăng gấp đôi với doanh thu hơn 30,000 bảng mỗi năm (Gần 1 tỷ đồng).
 Ollie là doanh nhân trẻ mới 17 tuổi

Ollie nói rằng: “Sự nghiệp kinh doanh của tôi bắt đầu từ năm tôi 6 tuổi, khi đó tôi pha trà cho ba mẹ và tính mỗi cốc 20 xu. Tôi không cần trả tiền cho bất kỳ nguồn nào khác ngoài nguồn nhân lực”.

Giống nhiều doanh nhân thành đạt khác như: Steve Jobs, Nelson Rockefeller hay Richard Branson, Ollie bị mắc chứng khó đọc, anh cũng thừa nhận rằng rất “vật lộn khi đến trường”.

Bố anh, ông Angus - một nhà môi giới bảo hiểm và mẹ là Melanie, người điều hành một doanh nghiệp thiết kế nội thất đã gửi anh đến một chuyên gia ở Bruern Abbey ở Bicester, Oxfordshire.

Ollie nói rằng: “Tôi đã được chuyển đến một ngôi trường đặc biệt, ở đó họ rất tận tình giúp tôi học đọc. Sau đó thì tôi chuyển đến trường Milton Abbey ở Dorset, 3 năm ở đây là những năm tồi tệ nhất cuộc đời tôi vì rất hay bị bắt nạt”.

Ollie không bao giờ kể cho ai về chuyện này nhưng đến một lần Ollie dũng cảm đến nói chuyện với cố vấn ở trường, người cố vấn nói rằng: “Hãy cứ bước tiếp, một ngày nào đó bạn sẽ trở thành tỷ phú”.

Mặc dù giàu có nhưng Ollie không bao giờ để tiền trong ngân hàng
Mặc dù giàu có nhưng Ollie không bao giờ để tiền trong ngân hàng

Ollie nói: “Đấy là những gì khiến tôi thành công, tôi bị đánh ở trường quá nhiều đến nỗi tôi muốn tự sát, nhưng tôi lại tự nhủ với mình rằng một ngày nào đó tôi sẽ giàu có và những kẻ kia sẽ phải làm việc cho tôi”. Ollie nói thêm: “Tôi muốn mở một cửa hàng bán quà tặng đắt tiền, trong năm đầu doanh thu đã lên tới 13,000 bảng (420 triệu đồng) rồi.

Từ khi vào học tại học viện The Peter John Enterprise, tôi đã có một tạp chí doanh nghiệp riêng có tên là Doanh Nhân Mới Chớm (the Building Entrepreneur). Tôi muốn tạo một trang web giới thiệu các nguồn lực cho những người mới khởi nghiệp, trang web này hoạt động từ 1 tháng 11, đến nay đã có hơn 4000 người đọc và đang tăng dần lên”.

Chưa phải là hết, Ollie chuẩn bị xuất bản sách vào năm 2016 với nhiều dự định mới trong tương lai. Anh cho biết: “Đam mê của tôi là thúc đẩy doanh nhân khởi nghiệp, ông Richard Brason một doanh nghiệp thành đạt và là người truyền đạt và động viên tôi rất nhiều, ông cũng bị chứng khó đọc và cũng bắt đầu viết tạp chí vào năm 16 tuổi”.

Ollie sở hữu 500 chiếc xe ô tô mô hình trị giá 10,000 bảng
Ollie sở hữu 500 chiếc xe ô tô mô hình trị giá 10,000 bảng

Mặc dù giàu có, Ollie không bao giờ để tiền trong ngân hàng. Anh có vài chiếc xe cổ hiếm ví dụ như chiếc Austin Ulster và The Herbie Beetle. Ngoài ra, anh còn sở hữu 500 chiếc xe ô tô mô hình trị giá 10,000 bảng (322 triệu đồng) nhưng anh mua chúng chỉ với 800 bảng (26 triệu đồng).

Ollie còn tổ chức một cuộc thi dành cho học sinh lứa tuổi từ 13-20 tuổi, trong cuộc thi này ai có ý tưởng khởi nghiệp hay nhất sẽ được nhận 1000 bảng (32 triệu đồng) và được Ollie và các chuyên gia khác cố vấn.

Ollie nói: “Mục đích của tôi là trở thành tỉ phú trước 20 tuổi để tôi có thể trợ giúp các doanh nghiệp trẻ khác. Lợi nhuận hiện tại của tôi là 280,239 bảng/tháng (9 tỉ đồng). Tôi nghĩ rằng tôi đã chứng minh được tôi hơn những kẻ hay đi bắt nạt người khác”.
Theo Lê Đức
Dân Việt
Share:

Cô gái 15 tuổi trở thành tỷ phú nhờ kinh doanh dép xỏ ngón

Trong khi phần lớn bạn bè cùng tuổi còn đang “mài đũng quần” trên ghế nhà trường, Madison Robinson (15 tuổi, người Mỹ) đã kiếm được cả triệu USD từ kinh doanh dép xỏ ngón.

Năm 2013 được coi là một “đại thành công”  với Madison Robinson (15 tuổi, Texas, Mỹ) khi đã thành lập nên “Fish Flops” (Công ty kinh doanh dép xỏ ngón). Cô gái đã gây được sự chú ý của hàng triệu người với thương hiệu “Fish Flops” và thương hiệu của cô đã trở thành thuật ngữ được tìm nhiều nhất trên Internet…

Thành công nhờ sự khác biệt

Khi lên 8, Madison nảy ra ý tưởng chế tạo những đôi dép xỏ ngón trang trí bằng hình sinh vật biển và gắn đèn nhấp nháy.  Bố cô - Dan Robinson - một nhà thiết kế áo phông đã giúp cô biến những bức vẽ thành sản phẩm mẫu.

Đến năm 2006, Madison đã lên kế hoạch thực hiện ý tưởng thành lập công ty chuyên sản xuất giày dép, quần áo... cho trẻ em từ chính các thiết kế của mình.

Sau khi triển lãm một vài đôi dép mẫu tại hội chợ thương mại, hơn 30 cửa hàng khác nhau đã liên hệ với cha con Madison. Năm 2011, công ty của Madison ra đời với cái tên "Fish Flops". Thương hiệu thời trang dành riêng cho trẻ em này nhanh chóng trở nên nổi tiếng.

Mỗi đôi dép xỏ ngón có giá 25 USD (hơn 500 nghìn đồng Việt Nam) và có hơn 60.000 đôi đã được bán trong năm 2012, tạo ra doanh số bán lẻ ít nhất là 1,2 triệu đô la Mỹ. Ngoài ra, công ty còn chuyên cung cấp sản phẩm cho các cửa hàng thời trang nhỏ lẻ khác. 
  Madison Robinson - cô bé thành công từ những đôi dép xỏ ngón

Chưa dừng lại ở đó, Madison Robinson còn có dòng sản phẩm dành riêng cho các bé gái từ 9-13 tuổi. Những mẫu sản phẩm thông minh và phong cách đó được đánh giá là nổi bật hơn so với các sản phẩm thông thường cho nhóm tuổi này.

Mới đây, Madison  đã ký hợp đồng với hai đại gia bán lẻ thời trang là Macy's và Nordstrom. Macy's thậm chí còn đề nghị Madison thiết kế dòng sản phẩm cho người lớn.

Sản phẩm của Madison được trẻ em yêu thích bởi có in hình các con vật ngộ nghĩnh như cá voi, rùa biển, bạch tuộc… Madison không chỉ bán mũ, áo phông mà còn viết sách cho trẻ em và lên ý tưởng thiết kế trò chơi online dưới thủy cung cho trẻ em.

16 tuổi, Madison đã là một doanh nhân khôn ngoan và giàu có. Thương hiệu thời trang của cô ngày càng nổi tiếng giúp cô kiếm bộn tiền. Tạp chí Forbes đã đưa ra dự đoán, Madison có thể lọt top 400 tỷ phú trong tương lai.

 “Không cho phép mình bỏ cuộc”

Madison cho biết, việc kinh doanh đã giúp cô bé có thêm nhiều kỹ năng sống. Trong việc kinh doanh, Madison không chỉ tự thiết kế, chọn màu trên máy tính, mà còn phải học cách đóng gói hàng, vận chuyển, giám sát kho, đặt giá, marketing trên mạng xã hội, theo dõi doanh thu và quản lý gian hàng trong hội chợ thương mại…

Cô bé còn từng viết thư tay để tiếp cận các nhà bán lẻ, sau đó thuyết phục họ bằng những mẫu thiết kế khả thi của mình.

Tại nơi Madison sinh sống, ai cũng tỏ ra ngưỡng mộ trí thông minh và tài năng kinh doanh của cô bé. The Houston Chronicle (một tờ báo Mỹ) đã đặt tên cô ở vị trí đầu tiên trong danh sách những người hấp dẫn nhất năm 2014, dưới đó là các ngôi sao như: các vận động viên, rapper, chính trị gia, các nhà hoạt động của thành phố…

Trước đó, rất nhiều ấn phẩm như tạp chí Seventeen, Forbes, tạp chí Success, Bloomberg Business Week, tạp chí Tatler và Times của Ấn Độ, đã dành nhiều “đất” đăng tải câu chuyện kinh doanh của Madison. Hình ảnh Madison xuất hiện trên trang bìa các tờ  Fox Business Network, Inside Edition, CNBC’s Nightly Business Report, ABC News, CBS News và những chương trình phát sóng khác

Ngoài ra, 2 nhà xuất bản sách giáo khoa trung học còn đưa Madison vào 1.000.000 cuốn sách cho học sinh Mỹ và Canada. Mới đây, tổ chức Junior Achievement vùng Đông Nam Texas cũng đã mời cô bé đến chia sẻ kinh nghiệm kinh doanh của mình với 8.000 sinh viên.

Kiên nhẫn là thứ quý giá nhất Madison có được từ công việc kinh doanh
Kiên nhẫn là thứ quý giá nhất Madison có được từ công việc kinh doanh

Madison thừa nhận không hề dễ dàng khi cùng lúc đảm nhận hai vai trò học sinh và doanh nhân. "Đôi khi tôi cảm thấy căng thẳng với việc học ở trường và việc kinh doanh. Tôi học đến 17:00 mỗi ngày, sau đó phải hoàn thành bài tập về nhà trước khi nghĩ đến núi công việc của công ty. Chưa kể, việc kinh doanh vô cùng bận rộn vào thời điểm cuối tuần”.

Hàng ngày, Madison nhận được rất nhiều thư, email của hàng trăm doanh nhân ở mọi lứa tuổi trên khắp thế giới hỏi bí quyết kinh doanh. Madison chia sẻ rằng: “Tôi đã viết thư gửi cho những khách hàng của mình rằng tôi đang sử dụng một kỹ thuật bán hàng kiểu cũ. Tôi đã từng nghĩ rằng nó không khả thi nhưng tôi vẫn thử, không bỏ qua một cách nào”.

Madison cho hay, điều quý giá nhất cô học được từ công việc kinh doanh là sự kiên nhẫn. Cô bé từng nói, giây phút hồi hộp và khó chịu nhất trong kinh doanh là chờ đợi cửa hàng đưa ra quyết định hàng hóa của mình có thể xuất hiện trên kệ của họ hay không.
Tuy kiếm được rất nhiều tiền nhưng Madison không sử dụng chúng bừa bãi. Cha cô bé là người quản lý tiền và là người chi tiền cho những nhu cầu rất đời thường của cô bé. Những dịp đặc biệt như sinh nhật hay ngày lễ, Madison phải tự lấy tiền tiết kiệm để chi tiêu.

Madison chia sẻ, cô sẽ để dành toàn bộ số tiền kiếm được đến khi đủ 18 tuổi rồi tiếp tục phát triển công việc kinh doanh mạnh hơn nữa khi đã có nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tế.

Madison cho hay, thời gian tới cô sẽ tham gia một lớp học kinh doanh, tài chính. Cô bé cũng dự định nghiên cứu kinh doanh ở trường đại học.

Trong bài phát biểu gần đây với tổ chức Junior Achievement, Madison đã chia sẻ những bài học kinh nghiệm của mình: "Không bao giờ bỏ cuộc, kiên định và kiên nhẫn. Nếu bạn có một ý tưởng hay, hãy nói với người thân về điều đó. Và biết đâu có người sẽ giúp bạn bắt đầu".

Theo Huyền Vũ
Dân Việt
Share:

Người châu Á tích lũy trang sức quý và đồ cổ cho tương lai

Người lao động tại châu Á cho rằng tài sản, trang sức quý và đồ cổ là những nguồn tài chính mới cho cuộc sống sau này. Khả năng để dành cho hưu trí của người lao động tiếp tục bị đe dọa bởi ảnh hưởng lâu dài của suy thoái kinh tế và những sự kiện phát sinh trong cuộc sống.
Một báo cáo mới của HSBC cho thấy sự thiếu hụt về nguồn quỹ tiết kiệm hưu trí trong bảy năm. Trong khoảng thời gian trung bình 18 năm về hưu, những người trong độ tuổi lao động trên thế giới cho rằng họ có thể sẽ sử dụng hết số tiền tiết kiệm và các khoản đầu tư (không bao gồm trợ cấp hưu trí) chỉ sau 11 năm.


Hai phần ba (66%) người trong độ tuổi lao động lo ngại họ sẽ không còn đủ tiền để trang trải cuộc sống hàng ngày lúc về hưu và 69% lo sợ họ sẽ cạn nguồn tài chính. Sự lo lắng này sẽ trở thành sự thật khi người lao động bước vào độ tuổi về hưu và nhận ra họ đang đối mặt với sự thiếu hụt lớn trong khoản tiền tiết kiệm.


Khảo sát của HSBC lấy ý kiến của hơn 16.000 người trên thế giới, cho thấy việc sở hữu tài sản thứ hai đang là môt lựa chọn phổ biến để bổ sung thêm vào nguồn quỹ hưu trí. Cụ thể là tại châu Á, tương ứng 71% và 35% người lao động đã sở hữu hoặc có kế hoạch sở hữu tài sản thứ hai tại quê hương họ và ở nước ngoài. Chín trong mười người lao động tại Indonesia (90%) và tại Ấn Độ (87%) có kế hoạch hỗ trợ nguồn quỹ hưu trí của họ bằng việc sở hữu tài sản thứ hai trong nước.


Hơn một nửa những người đang trong độ tuổi lao động vẫn tin tưởng vào các chương trình hưu trí cá nhân (62%) và các chương trình hưu trí của bên sử dụng lao động (57%) trong việc tạo ra nguồn thu nhập khi về hưu. Nhưng vẫn tồn tại mối lo ngại cho rằng nguồn quỹ này có thể không đủ mang lại một cuộc sống về hưu an nhàn, điều đó thôi thúc nhiều người tìm kiếm các nguồn hỗ trợ khác.

Tuy nhiên, theo khảo sát, những người trước tuổi về hưu đang ứng phó với tình huống này, họ hoạch định các nguồn tài chính bổ sung cho quỹ hưu trí của họ bằng các phương pháp tiết kiệm mới.


Điều thú vị là các nguồn quỹ bổ sung không theo truyền thống đang trở nên được ưa chuộng; 52% người lao động trên thế giới và 62% người lao động tại châu Á có kế hoạch trông cậy vào lợi nhuận từ vàng, trang sức quý, hoặc kim cương để hỗ trợ cho cuộc sống về hưu của họ. Tỷ lệ người lựa chọn trang sức quý, kim cương và vàng cao nhất là 92% tại Indonesia, tiếp theo là 86% tại Ấn Độ và 76% tại Malaysia.


Lần lượt gần một phần ba (28%) và một phần tư (25%) người lao động tại châu Á đã sở hữu hoặc có kế hoạch sở hữu đồ cổ và tranh vẽ để chuẩn bị cho quỹ hưu trí của họ so với tỷ lệ trung bình toàn cầu lần lượt là 24% và 22%.


Nhận định về kết quả khảo sát, Vineet Vohra, Giám đốc Toàn cầu Khối Phân tích Tài Sản, Ngân hàng bán lẻ và Quản lý tài sản, HSBC cho biết: “Khảo sát cho thấy nhiều người không chỉ đang vun đắp các quỹ hưu trí của họ thông qua các sản phẩm tài chính truyền thống mà còn bằng các tài sản hữu hình, và điều này đặc biệt đúng với người châu Á. Việc tích lũy tài sản đa dạng để tạo thu nhập khi về hưu là cần thiết, nhưng điều quan trọng là chúng ta cần đảm bảo một sự kết hợp hợp lý của thu nhập từ đầu tư và thu nhập từ lương, dựa trên mức độ chấp nhận rủi ro của từng người. Người lao động có khuynh hướng thích giữ tiền mặt, nhưng khả năng mua hàng hóa của tiền mặt lại bị lạm phát làm xói mòn trong dài hạn. Đa dạng hóa là điều cần thiết nhằm quản lý các rủi ro xuất phát từ lạm phát hoặc thị trường bất ổn.”


“Để tối thiểu hóa ảnh hưởng từ những sự kiện không lường trước như thất nghiệp, đối với quỹ hưu trí, những người đang trong độ tuổi đi làm có thể cân nhắc một vài kế hoạch bảo vệ hoặc các giải pháp đầu tư khác tùy theo nhu cầu. Thông qua việc lên kế hoạch sớm và đầu tư hợp lý, tuổi hưu sẽ không còn là một thách thức mà thay vào đó sẽ trở thành thời điểm mọi người hưởng thụ cuộc sống với sự độc lập về tài chính”.


Người lao động ở châu Á có kế hoạch để dành trung bình 25% trên tổng thu nhập cả năm cho hưu trí, cao hơn ở Anh (11%), Mỹ (14%) và các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (11%), theo khảo sát. Con số này đạt mức cao nhất 31% ở Hồng Kông, sau đó là Đài Loan 30% và Singapore 29%.

Tuy nhiên, tiết kiệm đủ cho một cuộc sống dễ chịu sau này là điều khó khăn, theo kết quả của báo cáo. Khả năng để dành cho hưu trí của người lao động tiếp tục bị đe dọa bởi ảnh hưởng lâu dài của suy thoái kinh tế và những sự kiện phát sinh trong cuộc sống.


Hơn tám trên 10 (83%) người lao động ở châu Á cho rằng suy thoái kinh tế và những sự kiện khác trong cuộc sống, như mua nhà và đầu tư giáo dục cho con cái, có ảnh hưởng lớn lên khả năng tiết kiệm cho hưu trí. Hơn một phần ba (37%) những người trước độ tuổi về hưu ở châu Á ngừng hoặc giảm việc để dành cho hưu trí trong suốt thời gian khủng hoảng. Khủng hoảng kinh tế đã tác động mạnh lên việc tiết kiệm cho tuổi hưu và tác động này sẽ còn kéo dài trong nhiều thập kỷ tới.


Vineet Vohra nhận định: “Khảo sát này cho thấy cho dù với sự cố gắng cao nhất, người lao động châu Á tiếp tục gặp khó khăn trong việc tiếp tục để dành cho tuổi hưu trí mặc dù nền kinh tế toàn cầu đang dần dần hồi phục. Như một dư vị khó chịu sót lại, nền kinh tế đi xuống gần đây đã khiến cho người lao động ưu tiên những nghĩa vụ tài chính khác như trả nợ vay, chi phí giáo dục và những trang trải cuộc sống hàng ngày. Không cần thiết phải như vậy. Với việc lập kế hoạch tài chính sớm và cẩn trọng cùng với tính kỷ luật khi thực hiện việc để dành và đầu tư thường xuyên, người lao động có thể đáp ứng được nhiều nhu cầu bao gồm cả việc tiết kiệm cho tuổi hưu trí.”


Khảo sát Tương lai hưu trí là một nghiên cứu độc lập hàng đầu thế giới về triển vọng nghỉ hưu trên toàn cầu của HSBC. Khảo sát này cung cấp những hiểu biết chuyên sâu về những vấn đề quan trọng liên quan đến dân số già và tuổi thọ trung bình ngày càng tăng trên thế giới. Báo cáo toàn cầu, Một kế hoạch cân bằng, là báo cáo lần thứ 10 trong bộ khảo sát, trình bày quan điểm của hơn 16.000 người tại 15 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn cầu (Úc, Brazil, Canada, Pháp, Hongkong, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Mexico, Singapore, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ, Các tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất, Mỹ). Kết quả khảo sát dựa trên cuộc thăm dò trực tuyến do Ipsos MORI thực hiện vào tháng Tám và tháng Chín năm 2014. Kể từ khi Khảo sát Triển vọng hưu trú được bắt đầu vào năm 2005, hơn 141.000 người trên thế giới đã tham gia khảo sát.


HSBC Holding plc, công ty mẹ của Tập đoàn HSBC, có trụ sở đặt tại Luân Đôn. Tập đoàn HSBC phục vụ khách hàng trên toàn cầu với hơn 6.200 văn phòng tại 74 quốc gia và vùng lãnh thổ tại châu Âu, châu Á, Bắc Mỹ và Mỹ Latinh, và Trung Đông và Bắc Phi. Với tài sản trị giá 2.729 tỉ đô la Mỹ tính tới 30 tháng 9 năm 2014, Tập đoàn HSBC là một trong những tổ chức dịch vụ tài chính và ngân hàng lớn nhất thế giới.
Theo Infonet
Share:

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015

Ai đứng sau thành công của Lazada Đông Nam Á?

Chỉ sau hai năm thành lập, Lazada đã trở thành "trang Amazon của Đông Nam Á" khi bành trướng ra năm thị trường Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam, với mức tăng trưởng ấn tượng nhất ngành bán lẻ trực tuyến trong khu vực.
Giám đốc điều hành Lazada Đông Nam Á Maximilan Bittner - Ảnh: swa.co.id

“Đại gia” thương mại điện tử Rocket Internet ra mắt Lazada từ tháng 4-2012. Kể từ tháng 9-2012, các nhà đầu tư bên ngoài đã đóng góp vào Lazada ít nhất 486 triệu USD. Trong năm 2013, công ty mẹ Rocket Internet huy động thành công cho Lazada nguồn vốn 250 triệu USD, chủ yếu đến từ tập đoàn bán lẻ khổng lồ nước Anh Tesco.

Thu nhập ròng 13,5 triệu USD

Theo báo cáo tài chính của Hãng đầu tư Thụy Điển Investment Kinnevik, thu nhập ròng của Lazada trong năm 2012 là 13,5 triệu USD, nhỉnh hơn một chút so với 12,9 triệu USD của "người em" Zalora - trang bán hàng thời trang trực tuyến cũng thuộc Rocket Internet. Trong sáu tháng qua, doanh số của Lazada tăng gấp đôi, lượng truy cập tăng 70%, đạt gần 1 triệu người/ngày. 

Trong cuộc họp cuối năm 2013, cựu giám đốc điều hành (CEO) Lazada Thái Lan David Jou cho biết trong vòng 14 tháng, Lazada Thái Lan đã tăng từ điểm khởi đầu chỉ 50-60 đơn hàng/ngày, với doanh thu 75.000 USD/tháng, lên 1.100 đơn hàng/ngày cùng doanh thu 1,1 triệu USD/tháng. Thị trường Bangkok chiếm 60% doanh số và 1/2 doanh số đến từ các quảng cáo trên Facebook dẫn người mua đến với website của Lazada.

Indonesia đang là thị trường hoạt động tốt nhất của Lazada, khi CEO Lazada Indonesia Magnus Ekborn đem về doanh thu hằng năm 7 tỉ USD, chiếm 30% thu nhập của Lazada.

Bùng nổ ở Đông Nam Á

Lazada có bốn bí mật đằng sau tốc độ lan rộng nhanh chóng của mình và xếp đầu tiên trong số đó là "Khách hàng là trên hết". Hãng sử dụng thước đo Net Promoter Score để đánh giá độ hài lòng của khách hàng với dịch vụ. 
Bất chấp thách thức, Lazada - nơi bán đủ các loại hàng từ đồ điện tử đến quần áo - đã tiến những bước dài để xây dựng chỗ đứng tại Đông Nam Á. Lazada hiện có khoảng 1.500 nhân viên làm việc theo nhóm, ít nhất 5 người/nhóm và không nghỉ ngày cuối tuần.
CEO Lazada Đông Nam Á Maximilan Bittner cho biết ông chọn Đông Nam Á vì khu vực này đang sở hữu tiềm năng 600 triệu khách hàng, với tầng lớp trung lưu gia tăng nhanh chóng trong khi chưa có một công ty nào hoạt động tương tự Amazon đến khai thác.

Năm thị trường Đông Nam Á kể trên đều có sức hút lớn với mô hình hoạt động của Lazada.Thái Lan đã có một hệ sinh thái trực tuyến phát triển, khi các công ty thương mại điện tử địa phương đã biết chi mạnh tay hơn vào quảng cáo và hướng dẫn khách hàng quen với việc mua sắm online. 

Trong khi đó, Indonesia có nguồn tài nguyên là dân số khổng lồ và Malaysia sở hữu GDP ấn tượng. So với các nước trong khu vực, khách hàng ở Việt Nam lại là những người nhiều thời gian nhất để lướt web, tạo điều kiện cho Lazada mở rộng thị trường.

"Nhìn những trang bán hàng Amazon hay Alibaba, bạn sẽ thấy được kích thước khổng lồ của các doanh nghiệp đó. Tất cả đều được xây dựng từ cơ hội cực kỳ ấn tượng" - ông Bittner nói.

Forbes nhận định thị phần thương mại điện tử ở Đông Nam Á so với thương mại bán lẻ là vô cùng nhỏ - chỉ khoảng 1% - xếp sau Mỹ, Anh 10%, Trung Quốc 8%, thậm chí Ấn Độ 2-3%, theo dữ liệu từ Centre for Retail Research. Con số này cho thấy cơ hội tăng trưởng khổng lồ của Lazada.

Sau khi tập trung toàn lực vào năm thị trường Đông Nam Á, trong đó Việt Nam và Indonesia là hai thị trường tăng trưởng cao nhất - theo Retail Asia, CEO Lazada sẽ tính đến chuyện mở rộng sang Bangladesh, Myanmar, Lào, Campuchia, tiếp đến là Mỹ và Trung Quốc.

“Chúng tôi có thể giao hàng đến tận đảo Papua”

Bất kể doanh số bán hàng là bao nhiêu, Forbes cho rằng khó có thể dự đoán triển vọng lợi nhuận của Lazada, vì khối lượng đầu tư khổng lồ của họ vào chuỗi cung ứng, kho bãi và dịch vụ giao hàng là không thể tính toán được. Hãng có một số địa điểm trọng yếu tại các vùng đảo xa của Indonesia và Philippines. 

"Chúng tôi bán hàng toàn quốc, chúng tôi còn có thể gửi hàng đến tận Papua (một hòn đảo xa và ít dân ở Indonesia. Đó là lợi điểm bán hàng độc nhất (USP) của chúng tôi - ông Bittner khoe - Khi Amazon bắt đầu ở Mỹ, họ không phải suy nghĩ chuyện vận chuyển hàng hóa đến khách hàng bằng cách nào, đã có mạng lưới giao nhận UPS lo". 

Trong khi đó, Lazada phải tổ chức các đội giao hàng trực tuyến trong từng thị trường, vận chuyển khoảng 30% tổng số đơn hàng. Không chỉ có hậu cần mà mạng lưới thanh toán của Lazada cũng rất khác. Theo đó, phương thức thanh toán lớn nhất vẫn là trả tiền mặt khi giao hàng. 

Lazada phải đối mặt với thách thức nội địa hóa mà Amazon không vướng phải ở Mỹ: phần nhiều trong số 535 triệu dân tại năm quốc gia không có thẻ tín dụng, hoặc nếu có cũng rất thận trọng khi cà thẻ cho các đơn hàng trực tuyến. Vì thế họ trả tiền mặt khi nhận hàng. Các công ty hậu cần nội địa vẫn đang phục vụ thương mại điện tử bằng tùy chọn "trả tiền mặt khi giao hàng". 

"Chúng tôi cố gắng cho phép khách hàng trên toàn quốc thanh toán tiền mặt khi nhận hàng và xây dựng một mạng lưới dịch vụ hậu cần để giao hàng đến mọi nơi" - ông Bittner nói.

Khó khăn của Lazada là hướng dẫn cho khách hàng kinh nghiệm mua sắm thật sự. Khách hàng sẽ nhận được thông báo qua điện thoại hoặc tin nhắn SMS (đối với Philippines) khi kiện hàng đang trên đường giao đi.
(Theo Forbes, CNBC)/Tuổi Trẻ
Share:

Tay không thành công với website thương mại điện tử

Họ chưa từng mở công ty, thậm chí chưa từng làm việc trong lĩnh vực thời trang. Nhưng năm 2005, cả hai bỏ công việc về luật và chính trị để khởi nghiệp với cổng thông tin trực tuyến Refinery29 chuyên về thời trang và thương mại, tại kinh đô thời trang hoa lệ New York.
Hai ông chủ Philippe von Borries và Justin Stefano - Ảnh: Forbes
Bằng cách nào hai chàng trai - Justin Stefano và Philippe von Borries - chỉ với mức lương 28.000 USD/năm lại trở thành chủ một thương hiệu truyền thông có doanh thu hàng chục triệu USD hiện nay?

Ban đầu, không ai nhìn nhận nghiêm túc hai anh chàng này và chẳng ai dám mạo hiểm đầu tư vào những người lần đầu tiên bước vào kinh doanh. Nhưng đến nay Refinery29 đã có mặt tại 6 thành phố lớn ở Mỹ, gồm New York, Los Angeles, San Francisco, London, Chicago, Washington D.C) và mỗi năm có đến 30 triệu lượt khách truy cập.

Theo Forbes, website của hai chàng trai này tập trung vào xu hướng thời trang và các nhà thiết kế độc lập và phát triển chóng mặt kể từ khi ra đời. Năm 2010, doanh thu tăng gấp 4 lần so với năm 2009, đạt 1,6 triệu USD. Đến năm 2011, nhảy vọt lên 7,8 triệu USD và năm 2012, doanh thu một lần nữa tăng gấp đôi lên 14,2 triệu USD. Refinery29 dự đoán doanh thu năm nay là 24 triệu USD.
Theo một hồ sơ SEC gần đây, website Refinery29 phục vụ thương mại điện tử và cập nhật tin tức thời trang đã huy động được 3,5 triệu USD từ 7 nhà đầu tư không được tiết lộ.

"Khi không có tiền, bạn sẽ tìm ra cách hữu hiệu để làm ra nó", Stefano chia sẻ. Ban đầu Stefano and von Borries chỉ đủ tiền tự trả lương cho mình 28.000 USD/năm, bằng quan hệ đối tác quảng cáo Glam Media. Cuối cùng, Refinery29 bảo đảm được một số tiền đầu tư 160.000 USD để thuê thêm 2 nhân viên trong 3 năm đầu tiên.

Refinery29 bắt đầu như một trung tâm hướng dẫn tập trung vào các lĩnh vực thiết kế, trang phục, âm nhạc, thương hiệu nhỏ nhưng chất lượng... Đó là những nhãn hiệu không có tiền (hoặc thời gian) để tự quảng bá chính mình, và Refinery29 sẽ cung cấp giải pháp thích hợp.

Họ cho phát triển "khu vực" mua sắm chớp nhoáng, cho phép độc giả ghé trang web mua hàng trực tiếp và hưởng hoa hồng 20-30% trên mỗi sản phẩm. Nhưng hiện tại để quá trình mua sắm liền mạch hơn, Refinery29 không tách biệt khu vực bán hàng mà lồng ghép vào từng bài viết để đạt doanh thu dự kiến 3-4 triệu USD từ thương mại điện tử trong năm 2013.

Các thương hiệu được hưởng lợi nhiều nhất tại Refinery29 chính là công ty và cửa hàng thời trang. Vì thế, dù thuộc về thế giới thời trang, Stefano and von Borries vẫn đáp ứng tốt nhu cầu thị trường. Họ trở thành một kênh thông tin nói về những thương hiệu thời trang đặc sắc mới nổi, thông qua công cụ chủ yếu là thư điện tử.

Phần lớn doanh thu đến từ các nhà quảng cáo. Giống như nhiều công ty truyền thông kỹ thuật số, Refinery29 đang nỗ lực gia tăng danh mục nội dung và thương mại để tăng doanh thu. Đến nay, Refinery29 có 105 nhân viên và 1,5 triệu người truy cập trong một tháng.
Theo Forbes/Tuổi Trẻ
Share:

William và tập đoàn truyền thông hàng đầu thế giới

Sở hữu tập đoàn báo chí khổng lồ Hearst Corporation, William Randolph Hearst từng được ví như "ông trùm truyền thông" Rupert Murdoch của thế kỷ 20.
Chân dung “Rupert Murdoch thế kỷ 20” William Randolph Hearst

Thậm chí, Tổng thống Teddy Roosevelt còn gọi William là "người duy nhất có ảnh hưởng sâu sắc lên mặt trái của xã hội Mỹ".

Người xây cơ nghiệp

Những cái “nhất” hiện nay trong ngành truyền thông đều nằm trong tay Hearst Corporation. Đây là một trong những tập đoàn truyền thông đa ngành lớn nhất trên thế giới, có tên trong mọi lĩnh vực, từ phát thanh, phân phối truyền hình, xuất bản điện tử đến chăm sóc sức khỏe.

Phân nhánh Hearst Magazines là nhà xuất bản tạp chí hằng tháng lớn nhất thế giới với 16 đầu báo hào nhoáng như Harper's Bazaar, Cosmopolitan, Esquire, House Beautiful, O, The Oprah Magazine, hay Talk... và hơn 100 phiên bản quốc tế phân phối tại hơn 100 quốc gia.

Trong đó nổi bật là công ty con National Magazine Company Limited dẫn đầu ngành xuất bản tạp chí tại Anh.

Phân nhánh báo chí Hearst Newspapers xuất bản 12 tờ nhật báo và 16 tờ tuần báo tại Mỹ, đồng thời điều hành một công ty con chuyên phát hành sách hướng dẫn Yellow Pages tại Texas, có “chân” trong nhiều công ty quảng cáo rao vặt trên Internet.
Harper's Bazaar - một trong những ấn phẩm hào nhoáng thuộc Hearst Corporation

Trong khi đó, Hearst-Argyle TV cũng lại là một trong những tập đoàn phát thanh độc lập quy mô nhất nước Mỹ, gồm 26 đài truyền hình và hai đài phát thanh với lượng khán giả là hơn 17% các hộ gia đình Mỹ.

Phân nhánh Hearst Entertainment và Syndication sở hữu các mối quan hệ đối tác với các đài ABC, NBC, kiểm soát 50% A&E Networks, 20% của ESPN và bắt tay với nhà phân phối các tính năng biên tập, truyện tranh, các tấm panel cho báo in lớn nhất thế giới - King Features.

Cùng mảng Business Media, "siêu" Tập đoàn Hearst còn có phân nhánh Hearst Interactive Media hợp tác với các dịch vụ Internet như iVillage và Hire.com.

Có tham vọng, có tất cả!

Trở lại với nhà sáng lập William Randolph Hearst, cuộc đời ông chỉ thật sự tỏa sáng từ năm 1887. Là người được thừa kế khối tài sản khổng lồ từ cha George Hearst, William mang tham vọng cực kỳ lớn - trở thành “tướng” truyền thông ngay trong thời đại mà doanh nghiệp báo chí khó có thể tách rời khỏi chính trị.

Thực chất cha của William chỉ miễn cưỡng làm báo khi ông “siết” tờ San Francisco Examiner như một thành quả sau trận thắng bạc.

Trong khi đó, cậu sinh viên nổi bật của Trường Harvard - William Hearst đã mường tượng ra những kế hoạch lớn lao cho tờ nhật báo bốn trang đang thua lỗ của cha mình.

Khi bị đuổi khỏi Trường Harvard năm 23 tuổi vì một hành động ngông cuồng, William Randolph Hearst trở về nhà nắm quyền điều hành tờ San Francisco Examiner và sau đó thâu tóm tờ New York Morning Journal năm 1895.

Ở đỉnh cao sự nghiệp ông sở hữu 28 đầu báo, 18 tạp chí (chưa tính đến đài phát thanh và các hãng phim).
Đại bản doanh của Hearst Magazine tại TP New York, Mỹ

Tôn thờ hình mẫu tờ báo New York World của Joseph Pulitzer, William Randolph Hearst bắt đầu mạnh tay vung tiền vào công nghệ in ấn tiên tiến nhất, và làm cách mạng báo chí khi lần đầu tiên sử dụng ý tưởng phóng to tít báo để hút độc giả.

Cùng với đó, các phóng viên Hearst không ngừng giật tít bài “sốc” nhất để cạnh tranh tay đôi với ông chủ bút tờ New York World. Trong trường hợp "đói" tin, Hearst cũng không ngần ngại sản xuất các sự kiện đáng để đưa tin hay đơn giản là viết quá lên.

Mỗi ngày hơn 20.000 nhân viên tại Hearst cật lực cung cấp thông tin, giáo dục, giải trí và truyền cảm hứng cho hàng triệu độc giả, khán thính giả toàn cầu.

Có thể nói, Tập đoàn Hearst tác động sâu rộng lên cuộc sống thường nhật của nước Mỹ khi trung bình cứ bốn người Mỹ thì có một người đọc tin từ Hearst.

Lấn sân qua sức khỏe

William Randolph Hearst mất năm 1951 ở tuổi 88 và để lại cho năm người con trai - George, William Randolph Jr., John và cặp song sinh Randolph, David - 5/13 ghế trong hội đồng quản trị Hearst Corporation. Trong đó, nổi bật nhất là William Randolph Jr. trở thành một nhà báo của Hearst giành giải thưởng danh giá Pulitzer.

Đầu tháng 1-2014, Hearst lấn sân sang lĩnh vực thông tin - chăm sóc sức khỏe với phân nhánh Hearst Health. Phạm vi của bộ phận này dự báo còn lan tỏa rộng hơn cả ESPN hay Cosmo vì Heatst Health trưng dụng các bác sĩ và chuyên gia y tế hiện điều trị cho 76% bệnh nhân sau xuất viện trên toàn nước Mỹ.

Tại thời điểm này, mảng Hearst Entertainment và Syndication là "gà đẻ trứng vàng" của Hearst Corporation, tiếp sau đó là Business Media với tốc độ tăng trưởng lợi nhuận đạt 30% trong năm năm qua.

Trong khi những năm gần đây mảng tạp chí và báo in gặp khó khăn khiến nó trở thành nhóm ít sinh lợi nhuận nhất trong tập đoàn. Số liệu tháng 10-2014 từ Forbes cho biết doanh thu hằng năm của Hearst vào khoảng 9 tỉ USD.
CHÂU LUÂN/Tuổi Trẻ
Share:

Hermès: Người Đức xây dựng chuẩn mực quý tộc Pháp

Từ một cửa hàng nhỏ chuyên sản xuất yên cương thời trang cho… ngựa, công ty gia đình Hermès sau 2 thế kỷ đã trở thành một trong những hãng thời trang cao cấp và lâu đời nhất thế giới.
Từ yên ngựa đến thời trang xa xỉ bậc nhất thế giới, gia tộc gốc Đức Hermès xây dựng đế chế kinh doanh tại đất Pháp - Ảnh: Internet

Chất quý tộc thuần Pháp của Hermès làm người ta quên mất gia tộc này thực chất là dân Đức di cư.

Người Đức tiến vào "Kinh đô ánh sáng"

Hermès giành được giải thưởng đầu tiên tại Triển lãm Toàn cầu danh giá (Exposition Universelle) 1855 ở Paris, và đến Exposition 1867, ông Thierry được vinh danh huy chương hạng nhất dành riêng cho cá nhân.

Các tín đồ Tin lành trong nhà Hermès đến Pháp định cư vào năm 1828. Mười năm sau đó, ông Thierry Hermès khởi đầu công ty gia đình với nghề làm yên cương trong khu phố Grands Boulevards, chuyên sản xuất các dây cương thuộc da tốt nhất cho xe ngựa phục vụ giới quý tộc.
Các khách hàng của Thierry đều là những quý ông phong cách và có "máu mặt" ở Pháp, hay người thuộc dòng tộc Hoàng gia châu Âu, như Napoléon III và Hoàng hậu Eugénie.

Không lâu sau triển lãm Exposition 1867, ông Thierry trao quyền điều hành công ty lại cho con trai Charles-Émile.

Vị chủ tịch mới đánh dấu thêm một cột mốc trong lịch sử Hermès khi quyết định chuyển cửa hàng về trung tâm sang trọng nhất kinh đô ánh sáng, tại số 24 Rue Faubourg Saint-Honoré, kế Điện Elysée - nay vẫn tự hào cửa hàng đầu tàu của đế chế Hermès.

Với sự trợ giúp của 2 con trai - Adolphe và Émile-Maurice, ông Charles-Émile trình làng một loạt sản phẩm yên ngựa mới và mở rộng bán lẻ cho tầng lớp thượng lưu khắp thế giới, từ Bắc Mỹ, đến Nga và châu Á.  

Thế hệ thứ III của Hermès - Émile-Maurice gây tiếng vang khi trở thành người được độc quyền sử dụng phát minh "dây kéo" trong các sản phẩm da và quần áo của hãng, và là người đầu tiên đưa công nghệ này vào Pháp.

Bí quyết từ những chiếc khăn choàng

Trong 20 năm điều hành, Émile-Maurice (không có con trai nối dõi) đã "tranh thủ" dạy cho 3 người con rể Robert Dumas, Jean-René Guerrand và Francis Puech trở thành các đối tác kinh doanh của Hermès.

Hermès chỉ thực sự tỏa sáng khi bước sang tuổi 31, với việc giới thiệu mẫu khăn vuông 90 phân tay Jeu des Ombinus et Dames Blanches làm mưa làm gió sau này.

Hãng cẩn thận phụ trách mọi khâu sản xuất, từ mua lụa thô Trung Quốc đến quay sợi, dệt ra chất liệu may khăn dày và nặng gấp đôi các mẫu khăn có sẵn tại thời điểm đó.

Các nhà thiết kế đặc biệt của Hermès khi đó chỉ làm một việc duy nhất là sáng tạo ra các mẫu họa tiết họa tiết mới - là cảnh phụ nữ đua ngựa, đánh golf.

Phải mất nhiều năm sau đó, Hermès mới hoàn thiện được các lưới in trích xuất từ thực vật. Mỗi màu sắc thêm vào khăn đòi hỏi 1 tháng sấy khô trước khi in màu khác.

Do đó, một chiếc khăn 40 màu tinh xảo nhất cần đến 3 năm mới hoàn tất. Đáp lại, sản phẩm này nhanh chóng trở thành phụ kiện không thể thiếu đại diện cho phong cách quý tộc nước Pháp. Đến nay, Hermès đã xây dựng được bảng palette gồm 200 nghìn màu!

Trong lịch sử tồn tại của mình, Hermès cũng có thời gian hợp tác với bộ lạc Tuareg để sản xuất một dòng trang sức bạc, vì thế người ta có thể bắt gặp các họa tiết truyền thống du mục của sa mạc Sahara trên một số sản phẩm của Hermès, đặc biệt là trên các mẫu khăn lụa.

Những tín đồ trung thành có tiếng của Hermès còn có Nữ hoàng Elizabeth II - bà từng chụp ảnh chân dung cùng khăn choàng Hermès in trên tem thư những năm 50, Grace Kelly, Audrey Hepbur, Jackie O hay Sharon Stone từng trưng dụng chiếc khăn Hermès trong bộ phim Basic Instinct.

Ngay cả những tên tuổi mới hơn như Sharon Stone, Sarah Jessica Parker, Hillary Clinton, Mariah Carey, Madonna, Oprah Winfrey cũng đặc biệt yêu thích khăn choàng của hãng.

Sau khi Émile-Maurice qua đời năm 1951, con rể Robert Dumas-Hermès trở thành Chủ tịch đầu tiên không thuộc gia tộc và đặc biệt quan tâm phát triển dòng sản phẩm khăn choàng.

Đến năm 1978, ông trao lại quyền điều hành cho con trai Jean-Louis - người đem lại doanh thu lớn cho hãng trong những năm 1990 nhờ kết hợp với nhà thiết kế Jean-Louis để cho ra đời những sản phẩm lạ, như áo jacket dành cho biker hay quần jeans da đà điểu.

Hermès còn nổi danh với các bộ sưu tập túi xách xa xỉ. Để xứng tầm với tiêu chuẩn sang trọng, hãng không sử dụng một dây chuyền lắp ráp, mà mỗi sản phẩm đều được các nghệ nhân bậc thầy chăm chút toàn bộ.
Bóng hồng nước Anh Jane Birkin - “nàng thơ” của dòng túi Hermès Birkin cùng chiếc túi Birkin có 1 không 2 với chuỗi hạt lo âu và bùa may mắn.
Với phương pháp sản xuất thâm dụng lao động, cùng với việc tận dụng các chất liệu hiếm có, đắt đỏ, một túi da độc đáo đòi hỏi 24 giờ tác tạo thủ công.

Ví dụ như một chiếc túi Kelly cần 18 giờ làm việc liên tục của duy nhất 1 thợ thủ công tay nghề cao. Chất liệu da lạ Hermès trưng dụng gồm da thằn lằn Malaysia, cá sấu Florida, bò Pakistan, cá sấu Úc, hay đà điểu, dê và bò từ khắp nơi trên thế giới.

Ngày nay, dòng sản phẩm đặc trưng nhất của hãng là túi Hermès Kelly (đặt theo tên của Grace Kelly), túi Hermès Birkin (vinh danh Jane Birkin) và túi đeo vai Constance - những sản phẩm luôn có danh sách khách hàng chờ đợi xếp dài.

Victoria Beckham là "fan ruột" của dòng túi Birkin khi sở hữu bộ sưu tập có giá trị đồn đại lên đến 1,5 triệu bảng Anh. Hay "chịu chơi" như Lady Gaga sắm hẳn cho mình chiếc túi Birkin thiết kế riêng với họa tiết chữ Nhật cách điệu.

"Bóng hồng" nước Anh Jane Birkin - chủ nhân tinh thần của dòng túi Birkin huyền thoại - cũng sở hữu một chiếc túi Birkin có 1 không 2 với chuỗi hạt lo âu và bùa may mắn.
CHÂULUÂN/Tuổi Trẻ
Share:

Bí quyết tạo ′những cá nhân đặc biệt′ của Singapore và Mỹ

Từ lâu rất nhiều người đã quên mất câu hỏi gốc gác này và chỉ say mê bàn chuyện học như thế nào, rồi tập trung cho khâu đổi mới phương pháp dạy học. Nhưng đó vẫn chỉ là bề nổi. Hãy thử nhìn sang các nước có nền giáo dục tiên tiến. 

"Những cá nhân đặc biệt" của Singapore và Mỹ (từ trái sang): Lý Quang Diệu, Barack Obama, Mark Zuckerberg, Bill Gates.

Giáo viên tự thiết kế bài học, không phải là người đi diễn giải lại nội dung SGK. Đó là lí do mà không trò nào giống học trò nào. Nền giáo dục đã tạo ra được các cá nhân. Chứ không phải là các học sinh mặc đồng phục về kiến thức.

Học cái gì?

Từ lâu rất nhiều người đã quên mất câu hỏi gốc gác này và chỉ say mê bàn chuyện học như thế nào, rồi tập trung cho khâu đổi mới phương pháp dạy học. Nhưng đó vẫn chỉ là bề nổi. Hãy thử nhìn sang các nước có nền giáo dục tiên tiến.

Trước hết từ nền giáo dục Hoa Kỳ:

Bộ khung nội dung là quan trọng tối cao. Bộ khung này quy định tất cả các đầu mục kiến thức nền tảng mà người theo học cần đạt. Ví như môn khoa học thiếu nhi cho tiểu học. Bộ GD sẽ soạn ra các đầu mục chương trình cho từng lớp và các hãng viết sách cứ theo đó mà viết SGK.  Mỗi hãng sẽ viết một kiểu theo bộ khung này và các trường được trao quyền tự do chọn lựa bộ SGK tốt nhất hoặc phù hợp nhất với phong cách đào tạo và triết lý giáo dục của mình.

Đây chính là không gian cho tự do học thuật ở bậc phổ thông. Bộ GD và thậm chí các bang không được phép can thiệp vào việc chọn SGK của các trường. Bộ GD Mỹ hoàn toàn có thể tự viết nội dung SGK nếu muốn. Song ít trường chọn điều đó.

Bộ khung này có thể ví như một thứ "kinh thánh". Nó phải chuẩn và đủ. Không được phép sai lệch hay thừa. Tiêu chuẩn phải chính xác về đầu mục và nội dung kèm theo là một thứ bảo bối giúp nền giáo dục của bất kì nước nào hay một trường ĐH nào đi lên.

Thứ hai  là bài học từ Singapore: Nền giáo dục phổ thông của Singapore theo hệ thống của Anh quốc. Trong khoảng 20 năm họ đã tiếp cận và đạt được chất lượng của hệ thống giáo dục Anh quốc.
Trong khi đó, trường chính sách công Lý Quang Diệu trực thuộc ĐH quốc gia Singapore NUS. Khi thành lập, NUS đã định hướng trường này theo mô hình trường chính sách công số 1 thế giới là Kennedy thuộc viện đại học Harvard. Để làm được như vậy NUS đã mua khung chương trình của trường Kennedy cho trường Lý Quang Diệu. Họ chỉ mất hơn 10 năm để đưa chất lượng đào tạo lên tầm thế giới.

Hiện trường Lý Quang Diệu là cái tên hàng đầu châu Á trong đào tạo chính sách công và nằm trong top 10 thế giới ở lĩnh vực và ngành hẹp này.

Hai câu chuyện trên gợi ý rất nhiều cho cho những người làm GD ở VN.

Học thế nào?

Tiêu chí khung giá trị cần chuẩn xem ra không phải ai cũng làm đúng cho dù rất giản dị. Nếu chưa thể làm chuẩn thì tốt nhất là thuê hoặc mua như Singapore đã làm. Nó giống cái la bàn giúp ta đi đúng hướng.

Lấy ví dụ về đề án viết SGK tiếng Anh phổ thông của Việt Nam mới được bàn thảo gần đây. Tại hội nghị quốc gia, vị chủ trì hội thảo phát biểu rằng: SGK tiếng Anh của ta cần đưa vào đó các nội dung về văn hóa Việt Nam. Nghĩa là để có sách dạy tiếng Anh mang văn hóa Việt, nhóm biên soạn phải viết lai sách, đồng nghĩa với việc các học sinh vẫn tiếp xúc và học kiểu tiếng Anh do người Việt viết, thay vì ngôn ngữ chuẩn do người bản ngữ soạn. 

Chừng đó để thấy cách tiếp cận khung chương trình như thế đã chệch hướng ngay từ đầu.

Một hạn chế nữa cần khắc phục, đó là từ lâu chúng ta đều biết kiểu dạy, học nhồi nhét và thuộc vẹt. Kiều học đó sẽ triệt tiêu năng lực tư duy, đặc biệt là tư duy sáng tạo và sẽ phá hủy mảnh đất ươm trồng trí tưởng tượng - thứ còn quan trọng hơn cả trí thông minh như: hoạt động vui chơi: nuôi dưỡng trí tưởng tượng. Thói quen đọc sách: ươm mầm đam mê và ước mơ.

Cần thêm các trải nghiệm cuộc sống để mang lại cảm xúc. Cảm xúc dẫn đến ý tưởng. Các nước phát triển coi trải nghiệm cuộc sống là cả một nền giáo dục riêng mà ở đó giáo dục ở nhà trường trở nên gắn bó với giáo dục gia đình. Tên gọi chính xác của nền giáo dục này là ComEd  - Community Education. Giá trị sâu xa cần đạt tới là tinh thần cống hiến, gốc gác của sự nhân văn.

Vế thứ 2 của học cái gì là "học vừa đủ", nhưng có lẽ  quá khó để định lượng và đôi khi nó không còn nằm trong ý chí chủ quan của cả người dạy lẫn người học. Ngay cả với một nền giáo dục chuẩn mực như Singapore thì nguyên lý học vừa đủ cũng bị phá vỡ bởi chính họ cũng khó lòng cưỡng lại và đẩy lùi xu hướng đó.

Cho đến gần đây, những người làm giáo dục nước này đã có một số động thái để cải thiện tình hình.
Trước hết, ĐH quản trị Singapore SMU là 1 đại học của nhà nước nhưng chính phủ đã xã hội hóa, cho phép tư nhân vận hành theo mô hình đại học của Hoa Kỳ mà cụ thể là Trường Kinh Doanh The Wharton thuộc đại học Pennsylvania ( UPenn - một trong 8 trường thuộc nhóm Ivy League ).
Kết quả là SMU không chạy theo việc học nặng mà thay vào đó là việc học vừa đủ. Họ đưa vào các chương trình bằng đôi liên kết với UPenn và đưa phương pháp học Discussion - based Learning (tức là học tập dựa theo thảo luận có gốc gác từ Reed College). Phương pháp này buộc người học phải đọc nhiều để đưa ra đươc ý kiến riêng của mình. Và với mục tiêu đọc để có ý kiến riêng thì việc học vẹt cộng nhồi nhét đã dần được loại bỏ.

Hai, Đại học công nghệ và thiết kế SUTD là một bước tiến mới và nỗ lực mạnh mẽ hơn của chính phủ Singapore trong việc tiếp cận tư duy giáo dục độc lập và triết lý sáng tạo cá nhân của Mỹ. Việc học cái gì đã được đưa xuống dưới mức đủ thành mức ít. Để cho người học dành thời gian nhiều hơn nữa cho việc sáng tạo. Sáng tạo ở mức cao là phải ra được sản phẩm cụ thể.

Còn các  trường của Mỹ sẽ từ khung chương trình học cái gì đúng và đủ để đưa ra các mục tiêu giáo dục mà họ muốn học sinh hướng tới. Giáo viên được trao quyền thiết kế bài học dựa theo cả khung chương trình và mục tiêu học trên nền nội dung của cuốn SGK họ chọn. Như vậy giáo viên không phải là người chỉ đi diễn giải lại nội dung SGK. Họ chủ động sáng tạo lại cách thể hiện nội dung học cái gì. Các lớp học theo giáo viên khác nhau sẽ tiếp cận các nội dung học và cả hàm lượng khác nhau.
Sự chủ động, độc lập và sáng tạo của giáo viên cũng sẽ sản sinh ra các học trò có các phẩm chất như thế. Đó là lí do mà không ai giống ai. Nền giáo dục đã tạo ra được các cá nhân. Chứ không phải là các học sinh mặc đồng phục về kiến thức.
Và đó nên là mục tiêu chính của giáo dục.
Theo TuanVietNamNet
Share:

5 chiến lược kinh doanh cần biết năm 2015

Là chủ một doanh nghiệp, bạn có thể nhận thấy rất nhiều các ý tưởng và chiến lược kinh doanh cốt lõi thường được áp dụng từ năm này qua năm khác. tuy nhiên, trong vài năm gần đây công nghệ thông tin đã thay đổi viễn cảnh của các doanh nghiệp.

Bởi công nghệ thông tin ngày càng lan truyền nhanh chóng bạn cần cập nhật ngay các chiến lược kinh doanh mới nhất, giống như 5 chiến lược kinh doanh của năm 2015 sau đây.

1. Hãy nghĩ đến các thiết bị di động
5 chiến lược kinh doanh cần biết năm 2015 (1)
Trong năm 2014, nghiên cứu cho thấy rằng điện thoại thông minh và máy tính bảng chiếm 60% tổng thời gian sử dụng các phương tiện truyền thông kỹ thuật số, tăng 50% so với năm 2013.

Năm nay, chúng ta có thể mong đợi số người sử dụng điện thoại di động sẽ tiếp tục gia tăng. Theo dự đoán sẽ có khoảng 2,97 tỷ người sử dụng Internet di động và số lượng người sử dụng Internet toàn cầu sẽ chiếm 91% vào năm 2017.

Nếu trang web của bạn không hỗ trợ điện thoại di động, bạn cần phải sửa chữa ngay lập tức. Hãy nhớ rằng, hơn một nửa số lượt xem trực tuyến của bạn được truy cập từ một thiết bị di động.

Là một chuyên gia về kinh doanh, Susan Solovic đưa ra lời khuyên trên Business 2 Community rằng bạn cũng nên "xem xét xây dựng một ứng dụng, mã QR và nhiều hơn nữa. Dành thời gian để nghiên cứu các chủ đề và tìm ra cách tốt nhất cho doanh nghiệp tận dụng lợi thế tiếp thị trên điện thoại di động".

2. Cải thiện trải nghiệm của khách hàng
5 chiến lược kinh doanh cần biết năm 2015 (2)
Andrew Reid, người sáng lập và là CEO của Vision Critical, chia sẻ với tờ Entrepreneur: "Khách hàng đang bắt đầu hiểu ra giá trị thực sự của họ với các công ty. Khi mà một đơn khiếu nại trên mạng xã hội có thể khiến doanh nghiệp mất hàng triệu đô la, một bản đánh giá trực tuyến có thể thay đổi số phận của một nhà hàng và những lời phản hồi có thể ảnh hưởng đáng kể đến các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp."

Đó là lý do tại sao trong năm 2015 bạn nên thực hiện các chiến lược để nâng cao trải nghiệm của khách hàng. Một số các chiến lược bao gồm:

Kết nối với khách hàng cá nhân và lắng nghe ý kiến phản hồi của họ. Khi đã biết khách hàng, bạn có thể cung cấp những trải nghiệm khác nhau cho từng người. Cung cấp giải trí là một cách tuyệt vời để truyền bá nhận thức về thương hiệu, thu hút khách hàng mới và giữ chân khách hàng cũ.

3. Trở về cơ bản
5 chiến lược kinh doanh cần biết năm 2015 (3)
Susan Solovic khẳng định rằng bạn cần phải ngừng theo đuổi xu hướng. Thay vào đó, "trong năm 2015, các chủ doanh nghiệp nhỏ sẽ nhìn vào tổng thể và thiết kế những chiến lược marketing riêng". Điều này có nghĩa là kết hợp các chiến thuật truyền thống như gửi thư trực tiếp với quảng cáo Facebook, tiếp thị nội dung, SEO và CRM.

4. Coi nội dung tiếp thị như một sản phẩm
5 chiến lược kinh doanh cần biết năm 2015 (4)
Arnie Kuen, Giám đốc điều hành của Vertical Measures, gần đây đã chia sẻ suy nghĩ của mình về tương lai của tiếp thị nội dung trên Marketing Land rằng "nội dung không chỉ là lời nói hay hình ảnh trên một trang web - đó còn là thông tin mà đối tượng của bạn đang tìm kiếm". Trong thực tế, "nội dung được coi như một sản phẩm".

Như Kuen kết luận: "Bằng cách tạo ra một thương hiệu nội dung, công ty cho phép người dùng có trải nghiệm tốt với sản phẩm đầu tiên mà họ tiếp xúc với: chính là nội dung".

5. Đầu tư vào đào tạo và giáo dục
5 chiến lược kinh doanh cần biết năm 2015 (5)
Nghiên cứu được tiến hành năm ngoái cho thấy: "Chi phí đào tạo của các công ty tại Mỹ tăng 15% trong năm qua (tốc độ tăng trưởng cao nhất trong bảy năm) lên hơn 70 tỷ USD ở Mỹ và hơn 130 tỷ USD trên toàn thế giới"

Các công ty nên đào tạo nhân viên theo nhóm nếu doanh nghiệp còn thiếu trong lĩnh vực nào đó, nó cũng có nghĩa là bạn cần phải đảm bảo nhân viên của mình là những thành viên năng suất của nhóm.

Theo Diễn Đàn Đầu Tư
Share:

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?

Follow by Email