Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Thứ Sáu, 31 tháng 3, 2017

Internet of Things sẽ bùng nổ như thế nào năm 2020?

“Internet of Things” (IOT), tạm dịch là “Thời đại Internet hoá”, được ví như cuộc “cách mạng công nghiệp” tiếp theo trong hành trình phát triển của loài người.


Lý do cho tên gọi đó là sự thay đổi mà nó mang đến cho sinh hoạt, làm việc, giải trí, du lịch của mọi người dân trên hành tinh, thậm chí cả cách các chính phủ và doanh nghiệp ở các nước tương tác với thế giới.

Trong thực tế, cuộc cách mạng ấy đã bắt đầu từ vài năm trước. Khi mua một chiếc xe ôtô mới, người dùng sẽ thấy có rất nhiều “đồ chơi” và ứng dụng nối mạng được cài đặt sẵn sàng trong xe. 


Những thiết bị gia đình thông minh giúp bạn điều khiển nhiệt độ phòng, kéo rèm, hoặc chơi nhạc với chỉ vài tiếng nói. Thiết bị theo dõi tập luyện thể dục mà bạn đeo trên cổ tay của mình có thể chia sẻ cho người thân và bạn bè của bạn biết những hoạt động bạn đang tập. 

Tất cả đều là một phần của cuộc cách mạng IOT.

Nhưng đó chỉ mới là sự bắt đầu.

Một dự án nghiên cứu của Business Insider Intelligence (BII) đã theo dõi sự phát triển của IOT trong suốt 2 năm qua, đặc biệt là cách người tiêu dùng, doanh nghiệp, và các chính phủ đang sử dụng hệ sinh thái IOT.  John Greenough và Johnathan Camhi tại BII đã lập ra một bản báo cáo kết quả nghiên cứu phân tích từng bộ phận của toàn bộ hệ sinh thái IOT, và đưa ra dự báo về hướng phát triển sắp tới của các thị trường IOT tiên phong.

Sau đây là một số tóm tắt của bản báo cáo nghiên cứu này:

IOT thực ra là gì?


Đó là một hệ thống mạng lưới các thiết bị được kết nối internet, có thể thu thập và trao đổi dữ liệu.

Hệ sinh thái IOT là gì?

Hệ sinh thái IOT cho phép các tổ chức có thể kết nối, kiểm soát và sử dụng các thiết bị IOT. Trong hệ sinh thái này, một tổ chức có thể sử dụng các thiết bị như điện thoại thông minh, máy tính bản, … để gửi đi các hiệu lệnh, hoặc truy cập thông tin từ một mạng lưới các thiết bị IOT khác. 


Trong trường hợp hiệu lệnh, thiết bị nhận lệnh sẽ thực hiện các công việc được thiết kế, thu thập dữ liệu để được truy cập và phân tích nhanh chóng.

Những động lực và rào cản của thị trường

 
Có 4 động lực chính cho thị trường IOT: kết nối Internet ngày càng mở rộng, thiết bị di động bùng nổ, thiết bị cảm biến với chi phí ngày càng thấp hơn, các nguồn đầu tư lớn đang đổ vào IOT.

Bênh cạnh đó, cũng có 4 rào cản đáng chú ý cho sự phát triển của thị trường IOT: các quan ngại về an ninh mạng, bảo mật thông tin cá nhân, các vấn đề trong quá trình ứng dụng, những tiến bộ về công nghệ còn đang phân tán.

Quy mô của thị trường

Trong tóm tắt tổng quan, báo cáo ước tính có khoảng 24 tỷ thiết bị IOT trên thế giới vào năm 2020. Tổng vốn đầu tư trong lĩnh vực IOT trong 5 năm tới sẽ đạt mức 13 nghìn tỷ đô la Mỹ

Ba đối tượng chính sử dụng thiết bị IOT, bao gồm các chính phủ, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Các nhóm thị trường này được dự đoán sẽ đóng góp chủ yếu cho thị trường IOT.

Đối với người tiêu dùng: 5 tỷ thiết bị IOT được cài đặt vào năm 2020, người tiêu dùng chi tiêu khoảng 900 triệu đô la Mỹ cho IOT, và dự báo vốn đầu tư vào thị trường này là 400 triệu đô la Mỹ đến 2020.

Đối với các chính phủ: sẽ có khoảng 7,7 tỷ thiết bị IOT được cài đặt đến năm 2020, tiêu tốn khoản 2,1 tỷ đô và 4,7 tỷ đô trong vốn đầu tư.

Đối với thị trường doanh nghiệp: sẽ có khoảng 11,2 tỷ thiết bị được cài đạt vào năm 2020, với chi phí 3 tỷ đô và 7,6 tỷ đô cho đầu tư.

Các ngành được hưởng lợi từ hệ sinh thái IOT

Ngành công nghiệp sản xuất: 35% các nhà sản xuất đã sử dụng các thiết bị cảm biến thông minh trong hiện tại, 10% đang có kế hoạch sử dụng trong năm tới, theo báo cáo từ PwC.

Ngành dầu khí và khai khoáng: ước tính 5,4 triệu thiết bị IOT sẽ được sử dụng tại các mỏ khai thác dầu vào năm 2020. Các thiết bị này chủ yếu là các cảm ứng nối Internet được sử dụng để cung cấp thông tin về các chỉ số môi trường tại mỏ khai thác.

Ngành giao thông: Các phương tiện giao thông nối mạng là các thiết bị IOT chính trong ngành này. Ước tính sẽ có khoản 220 triệu xe ôtô nối mạng được sử dụng vào năm 2020.

Ngành bảo hiểm: 74% các nhà lãnh đạo trong lĩnh vực bảo hiểm nói rằng họ tin tưởng IOT sẽ cách mạng hoá ngành bảo hiểm trong 5 năm tới. 74% có kế hoạch đầu tư vào phát triển và ứng dụng các chiến lược IOT trong năm tới, theo nguồn từ trung tâm nghiên cứu SMA.

Ngành nông nghiệp: Ước tính 75 triệu thiết bị IOT sẽ được bán cho khối ngành nông nghiệp đến năm 2020. Các thiết bị này chủ yếu cảm biến trong đất để theo dõi nồng độ axit, nhiệt độ, và những yếu tố khách để giúp nông dân nâng cao sản lượng thu hoạch.

Ngành năng lượng: các công ty năng lượng khắp thế giới đang cố gắng đáp ứng nhu cầu năng lượng toàn cầu đang tăng lên nhanh chóng. Để thực hiện điều đó một cách hiệu quả, họ sẽ cài đặt 1 tỷ thiết bị đo lường thong minh cho đến năm 2020.

Ngành quốc phòng: ước tính chi tiêu cho các thiết bị bay không người lái sẽ đạt mức 8,7 tỷ đô la Mỹ vào năm 2020. Thêm vào đó, 126 000 robot quân sự sẽ được chuyển giao đến năm 2020, theo nguồn từ Frost & Sullivan.

Ngành cơ sở hạ tầng: ước tính các đô thị lớn trên thế giới sẽ tăng chi tiêu cho các hệ thống IOT thông minh từ 36 tỷ đô trong năm 2014 lên 133 tỷ đô vào năm 2019. Sự đầu tư này sẽ tạo ra 421 tỉ đô về giá trị kinh tế cho các thành phố lớn trên thế giới vào năm 2019.

Lĩnh vực nhà ở
: Đến năm 2030, kết quả nghiên cứu dự đoán rằng phần lớn các thiết bị gia dụng được sản xuất và tiêu dùng là các thiết bị IOT, đặc biệt là từ động lực cạnh tranh giữa các nhà sản xuất lớn để kết nối các thiết bị do mình sản xuất.

Ngành dịch vụ ăn uống
: dự đoán 310 triệu thiết bị IOT sẽ được sử dụng bởi các công ty dịch vụ ăn uống vào năm 2020. Phần lớn các thiết bị này là các bản hiệu điện tử kết nối và thu thập thông tin trong các cửa chuỗi cửa hàng bách hoá và thức ăn nhanh.

Ngành dịch vụ khách sạn: 31% các khách sạn lớn sử dụng khoá cửa thông minh, 33% có các thiết bị điều khiển phòng thông minh, 16% có TV kết nối internet, và 15% sử dụng các thiết bị cảm ứng báo động khắp khách sạn, theo một khảo sát năm 2015 của tổ chức Hospitality Technology. Bạn có thể tưởng tượng ngành này sẽ phát triển các hệ thống IOT đến mức nào trong năm 2020.

Ngành dịch vụ bán lẻ: các thiết bị cảm ứng kết nối với các ứng dụng điện thoại thông minh đã được sử dụng trong các cửa hàng để tìm hiểu hành vi khách hàng và cải tiến cách quảng cáo đến khách hàng. Chỉ trong nước Mỹ, ước tính khoảng 44,4 tỷ đô thu được từ tin nhắn quảng cáo được tạo từ phân tích dữ liệu của các cảm biến.

Ngành dịch vụ vận tải: các thiết bị cảm biến theo dõi lộ trình được cài đặt vào các kiện hàng và các công hàng được vận chuyển để giảm thiểu chi phí vận chuyển, đồng thời tăng hiệu quả của mạng lưới. Thêm vào đó, các robot IOT như robot Kiva của Amazon giúp giảm thiểu chi phí kho bãi, nhân lực và các vấn đề hư hỏng hàng hoá.

Ngành dịch vụ sức khoẻ: ước tính 646 triệu thiết bị IOT sẽ được sử dụng trong ngành y tế vào năm 2020. Các thiết bị chăm sóc y tế được kết nối IOT có thể thu thập dữ liệu, xử lý thông tin tự động, và hơn thế nữa.

Nhưng những thiết bị này cũng có nguy cơ bị tấn công, vì thế có những quan ngại lớn về khả năng bảo mật của các thiết bị này khi mà sự an nguy của người bệnh có thể phụ thuộc hoàn toàn vào chúng.

Ngành ngân hàng: có gần 3 triệu máy ATM đã được cài đặt toàn cầu vào năm 2015, theo World Bank. Các thiết bị IOT có thể tạo ra lựa chọn kết nối các giao dịch viên ngân hàng với các máy ATM để tăng chất lương dịch vụ, đồng thời giảm chi phí của các phòng giao dịch.

Lĩnh vực quản lý các toà nhà thông minh: tại Mỹ, 43% các toà nhà được quản lý bằng các công nghệ IOT. Trong vài năm tới chúng ta sẽ thấy xu hướng này càng tăng lên nhanh chóng và ảnh hưởng đến tất cả những người sử dụng các toà nhà này.

Kết luận

Vậy chúng ta có thể thấy gì từ bảng tóm tắt của bức tranh toàn cảnh “Thời đại Internet hoá” trên? Có một số điểm nổi bật từ kết quả nghiên cứu như sau:

Dự báo có tổng cộng 34 tỷ thiết bị kết nối với mạng Internet đến năm 2020, từ con số 10 tỷ trong năm 2015. Các thiết bị IOT sẽ chiếm 24 tỷ, trong khi số lượng các loại thiết bị kỹ thuật số truyền thống ( điện thoại thông minh, máy tính bảng, đồng hồ thông minh, …) chỉ chiếm 10 tỷ trong tổng số này.

Gần 6 nghìn tỷ đô sẽ được chi cho các giải pháp IOT trong vài năm tới cho đến 2020.

Các doanh nghiệp sẽ là những tổ chức đi đầu trong ứng dụng các giải pháp công nghệ IOT. Họ thấy được có 3 cách mà IOT có thể giúp họ tăng hiệu quả kinh doanh: 1) giảm chi phí hoạt động, 2) tăng hiệu quả lao động, và 3) phát triển các thị trường mới hoặc phát triển các sản phẩm mới.

Các chính phủ đang tập trung tăng cao hiệu quả lao động, giảm chi phí, và nâng cao đời sống xã hội. Trong tương lai, họ được dự đoán là nhóm lớn thứ hai sử dụng công nghệ IOT.

Với người tiêu dùng, họ là những người được tiếp nhận dịch vụ và sử dụng sản phẩm cuối cùng trong quá trình phát triển các giải pháp IOT, tuy nhiên họ lại là nhóm tiêu thụ một số lượng rất lớn các thiết bị IOT, đồng thời là động lực thúc đẩy tất cả các ngành nghề cập nhật ứng dụng IOT trong hoạt động để cạnh tranh.

Chúng ta vừa bước sang năm 2017. Cho đến tương lai gần vào năm 2020, chúng ta sẽ chứng kiến một giai đoạn phát triển thần tốc ngắn nhất trong lịch sử loài người, với những cải cách công nghệ thay đổi hoàn toàn những thói quen trong cuộc sống hằng ngày của con người.

Có rất nhiều cảm xúc phấn khích, háo hức, cũng có không ít lo lắng và quan ngại cho sự thay đổi thần tốc này. Hiểu được những cơ hội cũng như thách thức mà “Thời đại Internet hoá” mang lại sẽ là điều kiện cần thiết để các nước như Việt Nam chúng ta hội nhập với thế giới.


Chúng ta là những nền kinh tế phát triển sau, nhưng điều đó không có nghĩa rằng chúng ta không có khả năng để bắt kịp các nước lớn trong “Thời đại Internet hoá”. Mỗi một doanh nghiệp công nghệ được ra đời và phát triển tại Việt Nam sẽ là một đứa con của hy vọng, cho tương lai rất gần của chúng ta.

>> Tìm cơ hội trong cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư

Theo BI Intelligence/DNSGCT
Share:

Giải mã bí ẩn về golf – môn thể thao “quý tộc” hấp dẫn giới siêu giàu

Ngày nay, golf đã trở nên phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới và thường được giới siêu giàu chọn làm thú tiêu khiển. Thậm chí trong làm ăn, người ta cũng thấy các doanh nhân giàu có đưa đối tác đến sân golf bàn công việc.


Golf đã du nhập vào Việt Nam từ khá lâu, tuy nhiên chỉ thực sự phát triển trong vài năm gần đây, khi mà việc giao thương giữa Việt Nam và các nước trên thế giới ngày càng được mở rộng. Người ta vẫn thường nói cửa miệng với nhau rằng, golf là môn xa xỉ chỉ dành cho các tỷ phú lắm tiền.

Tuy nhiên, với những người đã thực sự chơi và tìm hiểu nghiêm túc về môn thể thao này, thì hoàn toàn không phải như những gì mà mọi người vẫn nghĩ. Ngoài những lợi ích về mặt thể chất và tinh thần không thể bàn cãi mà golf mang lại, thì đây còn là môn thể thao dành cho doanh nghiệp, dành cho sự phát triển kinh doanh và các mối quan hệ mà không một môn thể thao nào mang lại giống vậy.

Nguồn gốc của golf

Không ai biết chính xác cái tên “golf” xuất phát từ đâu bởi vì các trò ném bóng hoặc đánh bóng thì đã có từ lâu trong lịch sử loài người. Người Hà Lan bắt đầu chơi một trò mang tên “kolf” từ thế kỷ 14. Trò này là đánh một quả bóng vào một cái cọc cắm dưới đất.

Tại Pháp, trò chơi này có tên gọi là jeu de mail, quả bóng được đánh vào vòng sắt bằng cách dùng một cái búa. Tại Anh, trò này được gọi là palle maille, sau này một con đường tại London đã được đặt tên theo môn thể thao này.

Tuy nhiên, Scotland mới chính là “quê hương” của môn thể thao quý tộc này. Từ thế kỷ 15, các thương gia Scotland mang theo những trái bóng “kolf” của người Hà Lan từ nhà đến St Andrews; sau đó họ sẽ đặt mục tiêu cho bản thân bằng cách đánh quả bóng vào một cái lỗ dưới đất.

Golf từng bị cấm để khuyến khích… bắn cung

Khi mới được giới thiệu năm 1457, golf được coi là môn thể thao bất hợp pháp. Vua James II của Scotland cấm chơi golf và đá bóng. Thay vào đó, ông khuyến khích người dân dành thời gian để thực hành bắn cung bởi vì điều này mới thực sự hữu ích cho đất nước.

Lệnh cấm này được thực hiện chính thức vào năm 1471 bởi vua James III, sau đó là vua James IV năm 1491. Tuy nhiên, sự ghét bỏ của hoàng gia Scotland với môn thể thao này cũng dần bị lu mờ. Nữ golf thủ đầu tiên của thế giới là Mary Queen, người Scotland.

Quy tắc chơi


 
Quy tắc lâu đời nhất của golf được viết năm 1744 bởi Câu lạc bộ golf Edinburgh. Theo quy tắc này, những người chơi sẽ phải đánh golf trong vòng độ dài của hố golf. Sau đó, câu lạc bộ golf Richmond tiếp tục soạn thảo các quy định thay thế trong thế chiến thứ II để người chơi biết được những việc phải làm nếu bị thua giữa trận đấu.

Nhiệm vụ của người chơi sẽ bao gồm sưu tập bất cứ mảnh vụn nào vì chúng có thể làm hỏng máy cắt cỏ và được phép che chắn trong thời gian chuẩn bị hoặc ném bóng và thay thế một quả bóng bị ném sai vị trí bởi hành động của đối thủ mà không bị phạt.

Bóng golf

Những quả bóng golf đầu tiên được sử dụng làm từ lông. Chúng được nhồi lông thông qua một thanh sắt và một nhà sản xuất thời đó chỉ có thể làm ra 50-60 quả bóng golf một tuần.

Vào năm 1840, bóng golf bắt đầu được làm từ gutta percha (một dạng cao su tự nhiên). Chúng rẻ và bền hơn so với bóng golf bằng lông nhưng lại làm cho gậy golf trở nên nặng hơn và làm hỏng sân cỏ.

Môn thể thao quý tộc dành cho người giàu

Ngày nay, golf đã trở nên phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới và thường được giới siêu giàu chọn làm thú tiêu khiển. Thậm chí trong việc làm ăn, người ta cũng thấy các doanh nhân giàu có đưa đối tác đến sân golf bàn công chuyện.

Vài thế kỷ trước, khi golf bắt đầu phổ biến, các doanh nhân cùng một số người thuộc tầng lớp trung lưu nảy ra ý tưởng đến vùng ngoại ô rộng rãi để xây dựng một địa điểm chơi golf chuyên biệt dành riêng cho họ và những người “cùng đẳng cấp”. Ở các nơi khác, người ta vẫn tiếp tục chơi golf như cũ. Tuy nhiên, phiên bản golf của câu lạc bộ với hội phí đắt đỏ, luật chơi rõ ràng, dụng cụ và sân tiêu chuẩn dần dần áp đảo.

Bên cạnh hiện tượng câu lạc bộ, có một giả thiết khác cho rằng hệ thống điểm chấp (điểm chấp được giao tùy vào khả năng và thành tích của người chơi) khiến môn thể thao này đặc biệt hấp dẫn với các doanh nhân.

Điểm được điều chỉnh dựa trên kỹ năng của người chơi trở nên thông dụng khi Câu lạc bộ Golf Royal Wimbledon đề ra các quy tắc áp dụng vào năm 1898. Nhờ đó, những người chơi có kỹ năng, trình độ và thể chất không tương đương có thể cùng tham gia thi đấu. Thậm chí người chơi kém cũng có thể thắng nếu thể hiện tốt. Có lẽ các doanh nhân cảm thấy tính chất hào hiệp và bình đẳng này của golf sẽ giúp họ đạt được thỏa thuận với đối tác dễ dàng hơn.

Ngoài những điều trên, golf còn thu hút người chơi nhờ tính an toàn, ít gây chấn thương, khu vực sân chơi cực rộng với cảnh quan thiên nhiên đẹp và luật chơi độc đáo, khó dự đoán kết quả. Vì vậy, dù mang tiếng “quý tộc” nhưng đây vẫn là bộ môn được nhiều người yêu thích và đánh giá cao.

 Theo Trí thức trẻ/Telegraph
Share:

3 lời nói dối ngăn cản bạn thành công

Theo Ramit Sethi, người tầm thường có xu hướng thích nghe những lời khuyên vô vị thay vì chấp nhận sự thật phải "đổ mồ hôi sôi nước mắt" mới có được thành công.


Ramit từng tốt nghiệp trường Đại học Stanford chuyên ngành tâm lý học và công nghệ. Ông là tác giả cuốn sách best-selling trên New York Times có tên I Will Teach You To Be Rich. Ngoài ra, ông còn là nhà đồng sáng lập startup công nghệ Pbwiki chuyên cung cấp công cụ miễn phí giúp người dùng thiết kế website đơn giản.

Trên ti vi và các phương tiện truyền thông khác, bạn rất thường nghe lời khuyên từ những người thành công, kiểu như hãy theo đuổi đam mê, sống với đam mê, làm những điều bạn thích, v.v... Nhưng theo Ramit, rất ít người biết những điều mà mà các vị CEO thành công chưa hoặc không bao giờ nói với bạn:

- Ông ấy không bao giờ xem kênh phim truyện. Trong nhà ông thậm chí còn không có ti vi.

- Mỗi sáng Chủ nhật, ông ấy nhốt mình trong văn phòng suốt 3 giờ đồng hồ để lên kế hoạch làm việc cho tuần tới.

- Đầu óc vị CEO luôn quay cuồng với công việc, ngay cả trong lúc tắm, lúc mua cà phê, và cả trong bữa cơm quây quần với gia đình. 

- Ông làm việc hơn 60 giờ/tuần...

Câu hỏi là, tại sao ông không chia sẻ những điều đó? Ramit lý giải, thực tế, rất nhiều người không muốn nghe người thành công kể về việc phải làm việc quần quật mỗi ngày. Nghe thật vất vả! Do đó, sẽ tốt hơn nếu người thành công chia sẻ một bí quyết nào đó mà những người bình thường có thể dễ dàng làm theo - ngay cả khi lời khuyên đó không hoàn toàn đúng.  

Thực ra chúng ta luôn nghe những lời nói dối trắng trợn này, ở mọi nơi, trong mọi lúc, mọi hoàn cảnh. Chắc hẳn bạn từng nghe một bà mẹ 2 con chia sẻ bí quyết giữ eo thon dáng gọn: "Tôi chỉ đi bộ hằng ngày và ăn uống hợp lý một chút thôi". Một học sinh đạt toàn điểm 10 sẽ phân bua: "Tớ hiếm khi học bài lắm, do tớ may mắn nên mới đạt điểm cao thôi". Một anh chàng hấp dẫn phái đẹp chia sẻ: "Chẳng có bí quyết gì đặc biệt cả. Chỉ cần là chính mình thôi". 

Bản thân Ramit cũng từng trải qua tình huống phải nói dối ấy, khi có độc giả đề nghị ông cho họ lời khuyên làm thế nào để kiếm được 1 triệu USD trong 3 tháng dựa vào ý tưởng vẩn vơ nào đó. "Thành công không đến dễ dàng thế. Bạn phải làm việc cật lực mới mong xây dựng được một doanh nghiệp thành công", ông nói, "Nhưng khi tôi bắt đầu nói về những nhiệm vụ cần thiết để thực hiện mục tiêu 1 triệu USD trong 3 tháng thì trông họ lại chẳng có gì là muốn nghe".

Người tầm thường không muốn chứng kiến hành trình "nằm gai nếm mật" gian khổ trước khi đạt được thành công, trong khi người chiến thắng thì không như vậy. Họ hiểu rằng, mình cần nhận ra những lời khuyên "ru ngủ" và khám phá sự thật "vất vả" bên trong giúp họ giành được chiến thắng.

Thực tế, phần đông chúng ta luôn cho rằng mọi việc luôn dễ dàng, cho dù đó là giảm cân, đạt điểm cao hay kiếm nhiều tiền. Và khi biết mục tiêu không dễ gì đạt được, chúng ta tự đưa ra những lý do để dối lừa bản thân nhằm hợp lý hóa cho thất bại của mình. 

Ngày nay, hầu hết mọi người không nhận ra hoặc cố tình lờ đi những lời nói dối về sự thành công. Theo Ramit, luôn có một thế giới ru ngủ chào đón chúng ta. Thế giới đó khiến con người trở nên tầm thường hơn nhờ cảm giác an toàn và hài lòng với suy nghĩ mọi người đều giống bạn.

Dưới đây là 3 lời nói dối phổ biến nhất mà Ramit phát hiện ra chúng ta tự nói với chính mình: 

1. Tôi không có đủ tiền để tiết kiệm

Ramit nhận ra mọi người thường dùng lý do "không đủ tiền" để bào chữa cho thói quen tiêu xài quá tay của mình. Để kiểm chứng, anh đã đăng một dòng tweet trên Twitter, cụ thể: "Mọi người đều có thể tiết kiệm, và theo thời gian, mọi người đều có thể đầu tư. Chỉ cần tiết kiệm 5 USD/tháng cũng đủ tạo ra thói quen".

Ngay lập tức, dòng tweet trên khiến nhiều người "xù lông" bởi họ không thích nghe sự thật rằng, ai cũng có thể tiết kiệm được tiền nếu chịu cố gắng. Và phản ứng tự nhiên khi đó là nhiều người cố gắng tìm ra những trường hợp ngoại lệ cho việc không thể tiết kiệm, đại loại:

- Có nhiều người nghèo đến mức không đủ ăn thì tiền đâu để họ tiết kiệm chứ.

- Đôi lúc tiết kiệm là chuyện bất khả thi.

- Có người bị phạt vì tích cóp quá nhiều đấy. 

Ramit kể, có một người bạn thường xuyên làm phiền ông về việc không thể tiết kiệm. Cuối cùng, ông đã viết thế này: "Nếu bạn thực sự tin rằng mình không thể tiết kiệm thì tôi - với tư cách cá nhân - sẽ giúp bạn tiết kiệm trong 3 tháng, hoàn toàn miễn phí. Chỉ cần bạn tuân theo quy tắc quan trọng số 1: Làm theo những lời tôi nói". 
Lần lượt sau đó những lời phàn nàn biến mất. Nhìn chung, khi những người hay than phiền không biết trả lời làm sao thì họ chọn giải pháp "bặt vô âm tín". 

Tất nhiên, đối với một số người thì giai đoạn bắt đầu tiết kiệm tiền sẽ khá khó khăn. Nếu bạn không kiếm nhiều tiền, không có khả năng để dành 500 USD, 50 USD, hay 20 USD mỗi tháng thì, Ramit khuyên, bạn có thể bắt đầu với 5 USD. 

Sau này, một trong những người than phiền đã phản hồi lại Ramit. Và Ramit rất trân trọng điều đó. Cô gái cho biết đã làm theo lời khuyên và bắt đầu tiết kiệm tại khoản tiền mà cô có thể - chỉ 50 cent/ngày - và dần dà cô hình thành thói quen tiết kiệm. 

Thực tế, vấn đề không nằm ở việc bạn tiết kiệm được bao nhiêu tiền. Điều quan trọng là bạn có niềm tin mình có thể tiết kiệm tiền, từ niềm tin đó mới hình thành nên thói quen tiết kiệm. Thực tế, bạn luôn có thể "điều chỉnh" khoản tiết kiệm của mình sau này. 

2. Tôi là người hướng nội nên không giỏi giao tiếp với người khác

Lời biện minh tưởng chừng vô hại này thực ra lại ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thành công của bạn. Bạn không phải là cá thể duy nhất trong cuộc sống. Bạn không thể tồn tại nếu chỉ dựa vào nỗ lực bản thân. Đó là lý do thúc đẩy người thành công nỗ lực rèn luyện kỹ năng giao tiếp, mở rộng mạng lưới mối quan hệ.

Nhiều người tự huyễn hoặc bản thân bằng suy nghĩ: Mình là người hướng nội, sinh ra vốn đã rụt rè, nhút nhát nên không giỏi nói chuyện với người lạ, càng không giỏi trong việc duy trì mối quan hệ. Ramit gọi đây là "câu chuyện hoang tưởng của người hướng nội". 

Bạn ông, Susan Cain, cũng là tác giả một cuốn sách viết về người hướng nội, phân tích, người hướng nội có mối gắn kết gần gũi với không gian tĩnh lặng. Tuy nhiên, điều đó không nói lên rằng người hướng nội kém cỏi trong việc bắt chuyện với mọi người, mà lý do thực sự là họ thích cảm nhận sự im lặng giữa chốn đông người.
Không may thay, từ "hướng nội" lại bị nhiều người vay mượn như một cái cớ để nhẹ nhàng lẩn tránh những cuộc nói chuyện khó chịu. 

>> 5 phẩm chất của nhà lãnh đạo hướng nội

Thực tế, bạn có thể vui vẻ tại những bữa tiệc, kết những câu chuyện hài hước và học cách thiết lập mạng lưới một cách tự nhiên.

Một trong những sinh viên xuất sắc của Ramit có tên Chris. Ông miêu tả đó là một anh chàng tuyệt vời, giỏi giang nhưng không may thay, Chris lại ghét nói chuyện trước đám đông. Sau một thời gian, Chris đã vượt qua nỗi ám ảnh đó và gặt hái thành công.

"Điều kỳ diệu ấy không xảy ra chỉ sau một đêm thức giấc mà nó đòi hòi Chris bỏ ra hàng năm trời luyện tập, bắt đầu từ ngôn ngữ cơ thể, ngữ điệu, biểu cảm gương mặt, sự tự tin...", ông cho biết.

3. Dù đã cố gắng hết sức nhưng tôi không thể giảm cân

Lời nói dối này là một hình thức thể hiện sự quyết tâm hoàn thành mục tiêu của mỗi người. Việc "đã cố gắng hết sức" nhưng không thể đạt được mục tiêu đề ra (giảm cân) cho thấy bạn đang làm sai phương pháp, hoặc chưa nỗ lực hết sức, hoặc do... yếu tố tâm lý.

Với một người có suy nghĩ "sinh ra đã mập vậy rồi" thì cho dù có cố gắng ăn ít, chăm chỉ luyện tập thì cuối cùng vẫn "đâu lại hoàn đấy", chẳng dẫn tới sự thay đổi nào cả.

Khi bạn tin vào lời nói dối, nó sẽ là một lời tiên tri thành hiện thực, Ramit nói. Thực tế, có một số trường hợp không thể giảm cân được do vấn đề bệnh lý, còn lại đa phần chọn cách chấp nhận số phận. "Bạn không cần phải giảm cân, bạn nên học cách chấp nhận bản thân, béo vẫn đẹp mà". Đây chỉ lời biện minh nhằm hợp lý hóa sự thiếu khát khao và nỗ lực vì mục tiêu thay đổi đúng đắn (giảm cân).
Cũng có những người thực sự hài lòng với bản thân của họ, thì lẽ dĩ nhiên họ không cần cố gắng giảm cân. Nhưng với những ai muốn mặc vừa chiếc quần jean yêu thích, đi lên cầu thang không phải thở dốc, hay khoe cơ bụng 6 múi trước mọi người, thì nên học cách thay đổi cơ thể. 

Lang là một học sinh của Ramit. Cậu đã vật lộn với việc giảm cân từ rất lâu. Lang cho biết đã cố gắng ăn uống điều độ, tập tạ, tham gia lớp học nhảy... nhưng vẫn không ích gì.

Ramit đã đưa Lang vào diện nghiên cứu trong chương trình thể dục thể hình có tên "I Will Teach" do ông và một số đồng nghiệp lập ra. Sau đó, họ phát hiện ra, thách thức lớn nhất của Lang xuất phất từ yếu tố tâm lý. Ví dụ:

- Lang không bỏ thừa mứa thức ăn. Gia đình ông bà nội trước kia của Lang sống tại Việt Nam và họ rất nghèo. Do đó, bố Lang hiểu rất rõ cơn đói. Ông luôn dạy các con mình rằng không bao giờ được lãng phí thức ăn.   

- Gặp gỡ bạn bè toàn đi ăn uống, nhậu nhẹt. Lang chia sẻ, bất cứ khi nào tụ tập thì nhóm của Lang sẽ luôn đi ăn hoặc nhậu vài lon bia với nhau...

- Ăn uống phải cảm thấy thoải mái. Chính vì tâm lý thoải mái này nên nhiều người không chịu được chế độ ăn uống kiêng khem khắc nghiệt trong thời gian dài. 

Sau khi hiểu rõ những rào cản của mình, Lang đã thay đổi dễ dàng hơn. Xã hội "ru ngủ" Lang rằng có một số người không thể giảm cân, nguyên nhân bởi yếu tố di truyền, cơ địa, bệnh tật,... và cách tốt nhất là chúng ta nên chấp nhận cơ thể mình. Tuy nhiên Lang đã được chuẩn bị để đối phó với tâm lý "tự lừa dối bản thân" đó và chọn cách thay đổi bản thân.

Ramit nhận định, chúng ta sống trong một thế giới nơi những người tầm thường được chúc tụng vì điều đó khiến những người còn lại cảm thấy tốt hơn: "Không sao, có người sinh ra đã nghèo/hướng nội/thừa cân rồi. Đó không phải lỗi của bạn. Bạn chỉ cần học cách chấp nhận nó thôi".

Bạn có thể giữ những lời dối trá đó để tự lừa dối bản thân trong hôm nay, ngày mai hay cả đời. Nhưng nếu muốn thành công, bạn nên học cách đối mặt với những sự thật không thoải mái và nhận ra những lời nói dối có thể khiến bạn đi sai đường đến cuối cuộc đời. 

DNSG/Growth Lab
Share:

Chủ tịch Xerox Ursula Burns: Muốn thành công, phải gai góc

Trong khi nhiều nhà lãnh đạo doanh nghiệp hiếm khi trao đổi thẳng thắn về công việc cũng như cuộc sống cá nhân thì Ursula Burns – Chủ tịch, cựu CEO Công ty dịch vụ kỹ thuật Xerox – ngược lại, bà không dùng mỹ từ để tô hồng lên cuộc sống và sự nghiệp của mình.


“Lợi thế” của sự nghèo khó

“Tính cách của tôi được hình thành bởi mẹ, anh chị em và cộng đồng của tôi. New York là một nơi không dễ sống. Bạn phải có một chút gai góc, bạn phải biết cách lên tiếng khi cần thiết”, nữ CEO người Mỹ da màu đầu tiên lãnh đạo công ty thuộc danh sách Fortune 500 nói.

Việc được sống trong khu phố dành cho người có thu nhập thấp đã là một bước tiến đáng kể so với căn hộ tập thể mà cả gia đình bà sống trước đó ở khu Alphabet City (quận Manhattan, thành phố New York). “Luôn có nhiều người ngủ dưới gầm cầu thang, có cả những người nghiện ma túy… Ngoài hành lang thường nặng mùi nước tiểu… Đó dĩ nhiên không phải là nơi ở an toàn...” là những điều Ursula Burns còn nhớ về nơi mình từng sống thời thơ ấu.

Mặc dù không sở hữu nhiều lợi thế như những đứa trẻ khác, cựu CEO Xerox cho rằng một phần thành công của bà đến từ việc sống trong khu nhà ở ít tiện nghi nhưng được tiếp cận với phương tiện giao thông công cộng giá rẻ và một nền giáo dục tốt.

Ursula Burns thực tập ở Xerox vào năm 1980 và trở thành kỹ sư tại đây với mức lương khởi điểm hơn 29.000 USD/năm sau khi tốt nghiệp. Mức lương này đủ để bà có một cuộc sống ở mức trung lưu. Lúc đó, bà sở hữu một chiếc ô tô và một căn nhà ở ngoại ô New York.

Burns là một trong 5 nhà lãnh đạo có tầm ảnh hưởng được CNNMoney chọn phỏng vấn để thực hiện chương trình “Giấc mơ Mỹ: New York”. Sự nghiệp, tài năng và trải nghiệm sống khác nhau nhưng cả 5 “công dân New York tiêu biểu” này đều có điểm chung là niềm đam mê duy trì và phát triển nhân tài cho các thế hệ mai sau.

Ngoài Ursula Burns, 4 nhân vật còn lại được CNNMoney chọn là Alan Greenspan – cựu Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED), Mickey Drexler – CEO J. Crew, Howard Schultz – CEO Starbucks và huyền thoại hip-hop Russell Simmons. Mỗi người trong số này đều đã vượt qua nhiều khó khăn và đạt được thành công thậm chí vượt xa niềm mong đợi lớn nhất của chính mình.

Ở giai đoạn hiện tại, “giấc mơ Mỹ” dường như là một điều gì đó quá xa vời. Nhiều người Mỹ tin rằng đó là chuyện viển vông, rằng họ sẽ không bao giờ có thể chạm tới được. Và tân Tổng thống Mỹ Donald Trump có vẻ như đã khá thành công khi đưa ra quan điểm về vấn đề này trong chiến dịch tranh cử của mình, rằng “giấc mơ Mỹ” đã chết và chỉ có ông mới làm cho nó sống lại. Tuy nhiên, dễ dàng nhìn thấy có một khoảng cách khá lớn giữa chính sách của Washington và những gì chính sách có thể làm được. Trong bối cảnh đó, cuộc đời của 5 nhà lãnh đạo kinh doanh tiêu biểu trên chính là một minh chứng sinh động nhất cho sức mạnh bền bỉ của “giấc mơ Mỹ”.

Chạm đến “giấc mơ Mỹ” nhờ bản tính bộc trực?

Sự nghiệp của Ursula Burns tại Xerox đã thay đổi mãi mãi kể từ năm 1989, khi bà tham dự một cuộc họp của công ty về vấn đề cân bằng giữa công việc và cuộc sống. Một đồng nghiệp của bà đã hỏi nhà điều hành về lý do tại sao Xerox lại tập trung quá nhiều vào sự đa dạng. “Anh ta không nói thẳng ra từ “người da màu”, anh ta hỏi rằng “Tại sao chúng ta lại thuê quá nhiều dạng nhân viên và cả phụ nữ “khác biệt” này vào trong công ty?””, Ursula Burns kể.

Vì không hài lòng với câu trả lời của người điều hành về sự đa dạng, bà đã đứng dậy trước mặt mọi người và nói lên sự thiếu nguyên tắc và nhiệt huyết của ông ấy. Những ý kiến của Burns đã dẫn đến một cuộc trao đổi “kém thân thiện” giữa 2 người.

Chỉ sau khi cuộc họp kết thúc, Burns mới biết người điều hành cuộc họp hôm ấy chính là Wayland Hicks – một Phó chủ tịch điều hành vào thời điểm đó. “Tôi nghĩ rằng tôi sẽ bị sa thải. Và mức lương 29.000 USD sẽ “cuốn theo chiều gió””, Ursula Burns nhớ lại.
Sự thật là, Hicks đã khiển trách Burns vì có thái độ không phù hợp và nói với bà rằng “Luôn có cách hay hơn để nói rằng mình không tán đồng ý kiến của người khác”. Sau buổi “khiển trách”, hai người còn đối thoại với nhau thêm nhiều lần trong một số cuộc họp nữa.

Năm 1990, Wayland Hicks hỏi Ursula Burns có muốn đảm nhiệm vai trò trợ lý điều hành hay không. Thêm một lần thứ hai, Burns lại cảm thấy bị Hicks làm cho thất vọng. “Anh nghiêm túc đó chứ?”, bà hỏi lại vì nhìn thấy viễn cảnh phải chuyển sang một công việc không tương xứng với trình độ chuyên môn của mình. Hicks phải giải thích rằng, công việc này không đơn thuần như vai trò của một thư ký, ông sẽ giới thiệu bà với dàn lãnh đạo cấp cao, và bà sẽ có cơ hội được tiếp cận thực tế cách mà các nhà điều hành vận hành doanh nghiệp.

Lúc đó Burns mới nhận công việc mà bà mô tả là “vai trò quan trọng nhất mình từng nắm giữ”. Năm 1999, bà nắm giữ trọng trách lãnh đạo lĩnh vực sản xuất toàn cầu tại Xerox. Từ đó, bà thăng tiến dần đến các vị trí lãnh đạo cấp cao và trở thành CEO Xerox vào năm 2009. Đến tháng 5/2010, bà kiêm cả vai trò Chủ tịch Công ty. Bà rời ghế CEO Xerox hồi tháng 12 vừa qua.

Burns cho rằng bà đã đạt được “giấc mơ Mỹ” và tin tưởng một cách mạnh mẽ rằng nó vẫn luôn tồn tại bất chấp những khó khăn mà nước Mỹ đang phải đối mặt. Bà khẳng định: “Nước Mỹ là một trong số ít những nơi mà bạn có thể sống với giấc mơ này và biến nó trở thành hiện thực”.

DNSG
Share:

SME xây dựng thương hiệu thời đại số

Truyền thông kỹ thuật số giúp doanh nghiệp xây dựng thương hiệu hiệu quả với chi phí thấp hơn rất nhiều, nhưng mặt trái là doanh nghiệp không còn kiểm soát được thông tin truyền thông.  

Ai quyết định thông tin?

Chỉ sau một thời gian ngắn, trước khi nhiều người kịp nhận ra, ảnh hưởng của kỹ thuật số đã bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống. Và cũng chỉ trong vài năm ngắn ngủi, cục diện của truyền thông đã hoàn toàn thay đổi. Thông tin đang khan hiếm bỗng trở nên dồi dào, phong phú và đa dạng.

Trước đây, báo chí phụ trách việc đưa thông tin đến với công chúng. Chỉ duy nhất báo chí là cầu nối giữa doanh nghiệp với khách hàng cũng như các mối quan hệ đối tác tiềm năng của doanh nghiệp.

Rồi truyền thông xã hội xuất hiện. Chỉ với mội chiếc điện thoại thông minh có kết nối internet, ai cũng có thể trở thành "nhà báo" với việc phát tán thông tin ở bất cứ nơi đâu, bất cứ khi nào. Những "nhà báo" này có thể là bất cứ ai, khách hàng trung thành, khách hàng tiềm năng hay thậm chí là doanh nghiệp đối thủ.

Theo bà Nguyễn Minh Hương - Tổng giám đốc Công ty Golden Communication Group: "Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ người dân sử dụng internet rất cao, chiếm hơn 50% dân số. Mỗi ngày người Việt dùng laptop, tablet hơn 4 giờ, điện thoại là 2 giờ 30 phút và khoảng 1 giờ 30 phút xem tivi. Tổng cộng mỗi người mất gần 8 giờ mỗi ngày để kết nối với hệ thống kỹ thuật số”.

Giờ đây doanh nghiệp đã không còn làm chủ được thông tin, nên nếu không ý thức được điều này sẽ dễ dàng đánh mất khách hàng cũng như gặp khó khăn trong việc xây dựng khách hàng trung thành.

Nếu không có thương hiệu, không ai biết đến doanh nghiệp là ai, doanh nghiệp như thế nào. Không hiện diện trong tâm trí khách hàng, doanh nghiệp không là gì cả.

Bà Hương chia sẻ: "Khác với tên công ty, bởi có thể tiếp nhận bằng các hình thức nghe nhìn, còn thương hiệu doanh nghiệp hiện diện trong tâm trí người tiêu dùng. Với lượng thông tin khổng lồ tràn ngập các trang mạng, xây dựng uy tín thương hiệu là một trong những yếu tố cạnh tranh đắc lực bên cạnh các giá trị cốt lõi, giá trị chất lượng sản phẩm, giá cạnh tranh.

Trên mạng xã hội, các diễn đàn, mỗi một khách hàng là một nhà đầu tư, là người có quyền quyết định chọn thương hiệu. Không còn nữa các công cụ có thể kiểm soát tình cảm và nhận thức của khách hàng, cũng như phát ngôn hay đánh giá nhận xét của họ”.

Marketing phải phù hợp

Để đối mặt với những thách thức mới, chiến lược marketing thương hiệu được nhiều doanh nghiệp đưa ra để nhận diện chính mình và để khách hàng biết đến mình nhiều hơn.

Tuy nhiên, theo nhận định chung, đối phó với truyền thông thời đại kỹ thuật số, việc ai tạo ra thông tin, ai nắm giữ thông tin không quan trọng bằng việc doanh nghiệp xây dựng được chiến lược phát triển thương hiệu phù hợp với giá trị cốt lõi. Chỉ khi hiểu và xác định rõ giá trị cốt lõi thì doanh nghiệp mới có thể làm thương hiệu hiệu quả.

Ông Huỳnh Ngọc Duy - CEO Công ty Mắt Bão chia sẻ: "Phần lớn doanh nghiệp cho rằng cứ làm marketing thương hiệu giống như các doanh nghiệp lớn thì sẽ thành công. Thực ra trước khi thành công, những doanh nghiệp lớn không làm truyền thông như bây giờ. Họ không đổ ra hàng đống tiền để thực hiện những chiến dịch quảng cáo, khuyến mãi, họ không làm các nghiên cứu thị trường tốn kém, họ không có phòng R&D, không chi tiền để các hãng truyền thông tạo ra những câu chuyện trên mạng xã hội hay bất cứ kênh truyền thông nào đó chỉ với mục đích lôi kéo người tiêu dùng chú ý. Họ chỉ nỗ lực hoàn thiện sản phẩm và làm thật tốt dịch vụ. Họ giải quyết vấn đề của khách hàng chứ không phải giải quyết vấn đề do truyền thông tạo ra".

Cùng nhận định của ông Duy, bà Nguyễn Hương Quỳnh - Tổng giám đốc Neilsen Việt Nam cho biết, các doanh nghiệp thương mại điện tử thường chi rất nhiều tiền vào chương trình khuyến mãi để lôi kéo khách hàng thông qua các trang web, mạng xã hội, diễn đàn nhưng chỉ giữ được khách hàng một khi nắm rõ yêu cầu của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ và đã nỗ lực ra sao để mang đến cho khách hàng điều tốt nhất có thể”.

Mặc dù truyền thông kỹ thuật số đã khiến tình thế đảo chiều khi người tiêu dùng giờ có thể tạo ra thông tin, nhưng không thể phủ nhận thương hiệu tốt đặc biệt phát huy hiệu quả với công cụ digital trong việc kết nối với khách hàng và giữ khách hàng trung thành.

Đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), việc tận dụng tốt các công cụ số như website, mạng xã hội, diễn đàn thì sẽ lắng nghe người tiêu dùng nhanh nhất, hiểu được người tiêu dùng muốn gì để phát huy tốt nhất giá trị cốt lõi, cũng là một trong những yếu tố quan trọng giúp xây dựng thương hiệu hiệu quả mà ít tốn kém.

DNSG
Share:

Ông chủ Amazon thành người giàu nhì thế giới

Jeff Bezos đã vượt ông chủ Zara - Amancio Ortega và huyền thoại đầu tư Warren Buffett với khối tài sản 75,6 tỷ USD.

Cổ phiếu Amazon tăng hơn 2% hôm qua đã giúp tài sản của Bezos tăng thêm 1,5 tỷ USD chỉ trong một ngày. Trước đó, đại gia thương mại điện tử thông báo kế hoạch mua lại hãng bán lẻ online Souq.com của Dubai. 

Bezos hiện có 75,6 tỷ USD, theo Bloomberg Billionaires Index. Con số này cao hơn Buffett 700 triệu USD và hơn Ortega 1,3 tỷ USD.

 
Ông chủ Amazon - Jeff Bezos có thêm 1,5 tỷ USD hôm qua. Ảnh: Reuters
 

Năm nay, Bezos đã có thêm 10,2 tỷ USD. Còn tính từ thời điểm chứng khoán toàn cầu bật tăng sau chiến thắng của ông Donald Trump năm ngoái, ông chủ Amazon có thêm 7 tỷ USD. Mức tăng này cao thứ 3 trong nhóm người giàu được Bloomberg theo dõi năm 2017, chỉ sau tỷ phú giao hàng Wang Wei (18,4 tỷ USD) và ông chủ Facebook – Mark Zuckerberg (11,4 tỷ USD).

Warren Buffett có thêm 1,7 tỷ USD năm nay. Tài sản của ông đã giảm 4,7 tỷ USD từ khi chạm đỉnh 79,6 tỷ USD hồi đầu tháng. Trong khi đó, Ortega kiếm được thêm 2,1 tỷ USD. Người giàu nhất thế giới vẫn là nhà sáng lập Microsoft – Bill Gates với 86 tỷ USD.

Vnexpress/Bloomberg
Share:

Thứ Năm, 30 tháng 3, 2017

3 bài học thành công từ nhà sáng lập của Nike

Cuốn tự truyện “Shoe Dog” của Phil Knight, nhà sáng lập hãng Nike, là một trong những tác phẩm bán chạy nhất trong năm 2016, và được cả Warren Buffett lẫn Bill Gates hết lời ca ngợi. Trong cuốn tự truyện này, Phil Knight đã kể lại cuộc hành trình từ lúc ông còn phải vay mượn của cha mình 50 USD để đăng ký thành lập công ty, cho tới lúc trở thành chủ của một thương hiệu trị giá hàng tỷ USD.


Dưới đây là 3 bài học đáng chú ý nhất từ “Shoe Dog”:

1. Bạn phải luôn giữ niềm tin, vì thành công không phải là thứ có thể đến sau một đêm

“Hãy tìm kiếm một tiếng gọi. Thậm chí nếu bạn chưa hiểu ý nghĩa của nó, hãy cứ đi tìm. - Phil Knight

Điều gì đã khiến một ý tưởng khởi nghiệp điên rồ của chàng thanh niên Phil Knight trở thành một nhiệm vụ phải làm cho bằng được? Lúc khởi nghiệp và bắt đầu tự sản xuất những đôi giày vào năm 1962, Knight biết rằng đó không phải là một lựa chọn bình thường cho một chàng trai vừa tốt nghiệp trường kinh doanh khi ấy. Nhiều người xem điều đó là điên rồ, nhưng ông vẫn tin rằng mình có thể làm được, và theo đuổi đến cùng ý tưởng của mình khi có rất ít người xung quanh đặt niềm tin vào ông.

Phải mất 5 năm trước khi Knight từ bỏ hẳn công việc toàn thời gian của mình và thuyết phục được cha mình rằng đó là một dự án đáng để theo đuổi; rồi phải mất thêm 2 năm nữa trước khi công ty của Knight đổi tên thành Nike như ngày nay.

Trước khi tổ chức IPO (phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng) vào năm 1980, Nike cũng có tới vài lần suýt phá sản. Từ đó cho đến nay, giá trị cổ phiếu của hãng đã tăng hơn 700 lần.

Phil Knight và những đôi giày đầu tiên của mình. Ảnh: tracking-board.com


“Vào một buổi sáng năm 1962, tôi tự nhủ: Hãy để mọi người gọi ý tưởng của bạn là điên. . . và cứ tiếp tục thôi. Đừng dừng lại. Thậm chí đừng nghĩ đến việc dừng lại cho đến khi bạn thực hiện được giấc mơ của mình, và đừng nghĩ nhiều tới việc đích đến là ở đâu. Dù cho bất cứ điều gì đến với bạn, đừng bao giờ dừng lại.” - Phil Knight

Vậy Knight đã thực hiện điều đó như thế nào? Làm thế nào ông có thể kiên trì lâu như vậy? Ông đã làm theo lời trái tim mách bảo và tin tưởng rằng cuối cùng tất cả sẽ thành công.

“Nếu bạn theo đuổi tiếng gọi từ trái tim mình, sự mệt mỏi sẽ dễ chịu hơn, sự thất vọng sẽ trở thành nguồn nhiên liệu và những khó khăn sẽ chẳng là gì cả. - Phil Knight

2. Hãy trở thành bậc thầy về nghệ thuật kể chuyện

“Những người kể chuyện giỏi luôn có lợi thế cạnh tranh hơn hẳn người khác. Họ sẽ tuyển dụng tốt hơn, họ sẽ luôn là tâm điểm của báo giới. Họ sẽ huy động vốn dễ dàng hơn và thu về nhiều hơn, họ sẽcác đối tác kinh doanh tuyệt vời, và họ sẽ xây dựng được một nền văn hóa doanh nghiệp vững vàng và gắn bó. Trên hết, họ có nhiều khả năng mang lại rất nhiều lợi nhuận.” - Bill Gurley, Đồng sáng lập tại quỹ đầu tư mạo hiểm Benchmark

Knight là một người kể chuyện cực giỏi. Cuốn sách của Knight dẫn đắt người đọc đi qua những thăng trầm và những bước ngoặt bất ngờ trong cuộc đời ông. Theo suốt cuốn tự truyện, chúng ta dần dà trở thành người ủng hộ Knight ngay cả khi Knight làm những việc “ngoài vòng pháp luật”, vì thấy ông là kẻ yếu thế trong một thế giới bị thống trị bởi những gã khổng lồ như Adidas, Puma và các nhà sản xuất Nhật Bản.


Từ ngày IPO tới nay, giá cổ phiếu của Nike gần như chỉ có tăng chứ không giảm. Ảnh: tumblr.com
 
Knight kể rằng ông đã “mượn tạm” tài liệu từ cặp táp của đối tác sản xuất tại Nhật Bản, để xác nhận thông tin rằng nhà cung cấp này có ý định bỏ rơi công ty của ông. Knight sử dụng thông tin này để tự bảo vệ bản thân, tạo ra một nhãn hiệu giày mới mang tên Nike và chuyển địa điểm sản xuất sang nơi khác. Dĩ nhiên là hành động của Knight là không hợp pháp, và điều này đã dẫn đến một vụ kiện tụng khá nhiều kịch tính. Với khả năng kể chuyện tuyệt vời, Knight khiến người đọc giữ thái độ ủng hộ ông trong suốt diễn biến của câu chuyện này.

“Kể chuyện chính là khả năng gây cảm hứng cho những người khác muốn biến câu chuyện đó trở thành sự thật” –Andy Raskin, Nhà tư vấn

Nếu Knight có thể khiên người đọc tham gia vào cuộc hành trình của mình một cách hứng khởi như vậy, không còn nghi ngờ gì nữa về việc ông đã làm điều tương tự với các nhân viên và đối tác kinh doanh của mình. Hai nhân viên đầu tiên của Nike đã không nhận lương hàng tháng vì họ thấy rằng công ty cần phải tiết kiệm tiền cho kế hoạch kinh doanh trước mắt. Kngith cũng đã cứu công ty khỏi bị phá sản bằng cách tìm được cách buộc các công ty tài chính Nhật phải trả nợ thay cho Nike. Nhờ vào biệt tài ăn nói đó, Knight có được những nhân sự xuất sắc và luôn trung thành với ông trong suốt nhiều năm.

3. Sẵn lòng trao cơ hội cho người khác

“Nếu bạn muốn đi nhanh, hãy đi một mình. Nếu bạn muốn đi xa, hãy đi cùng nhau” - Ngạn ngữ Châu Phi

Thay vì thuê một người nào đó cho một công việc cụ thể, Knight sẽ sẵn sàng đón nhận mọi nhân sự tài năng mà ông gặp được, từ đó ông sẽ tạo ra những vai trò phù hợp với họ nếu cần thiết. Những nhân viên đầu tiên của Knight đều là những người có chung niềm đam mê hoặc giá trị với ông, và có tiềm năng phát triển trong công việc của họ. Một ví dụ điển hình như vậy là Rob Strasser, vốn được Knight thuê về làm cố vấn pháp lý đầu tiên của Nike trước khi trở thành lãnh đạo bộ phận tiếp thị của hãng. Được gắn bó chặt chẽ với nhau thông qua các giá trị chung, đội ngũ sáng lập của Nike có thể được coi là “bất khả chiến bại”.

Phil Knight đứng cạnh Jeff Johnson, nhân viên đầu tiên của ông và cũng là người đưa ra ý tưởng đổi tên công ty thành Nike. Ảnh: luxatic.com


“Đừng chỉ vẽ người khác phải làm việc thế nào, hãy nói cho họ biết phải làm gì và rồi bạn sẽ ngạc nhiên trước những gì họ làm được. - Phil Knight

Bằng cách sắp xếp đội ngũ nhân sự xoay quanh một mục đích chung, và sẵn sàng bàn giao lại các trách nhiệm cốt lõi, Knight đã tạo điều kiện cho mọi người phát huy tối đa năng lực. Ví dụ nổi bật nhất về điều này chính là nhân viên đầu tiên của Nike là Jeff Johnson, người hàng ngày báo cáo cho Knight biết về tình hình kinh doanh, để từ đó Knight có thể góp ý hoặc hỗ trợ thêm nếu thấy cần thiết. Ít khi Knight trả lời lại, nhưng bằng cách đó, ông đã cho Johnson quyền tự do làm những gì mình muốn. Kết quả là Johnson đã chủ động điều hành các chiến dịch tiếp thị đầu tiên của công ty, và thách thức Knight mở cửa hàng bán lẻ đầu tiên chuyên về giày thể thao ở Mỹ.

Việc dám “đặt cược” vào những nhân sự tài năng, trao cho họ sự tự do và trách nhiệm cần thiết đã cho phép Knight biến ý tưởng điên rồ cách đây hơn 50 năm của mình thành một đế chế hưng thịnh có trị giá 93 tỷ USD của ngày hôm nay.

Nhịp Cầu Đầu Tư/ Medium
Share:

Chủ tịch VN Oil: Muốn thành công phải tin ở chính mình

Mỗi năm, Việt Nam nhập khẩu khoảng 400.000 tấn dầu gốc, uớc tính tổng giá trị vào khoảng 500 triệu USD. Nhưng sau khi sử dụng, số lượng dầu này thải ra không được xử lý, vừa lãng phí vừa gây ô nhiễm môi trường. Ba mươi lăm năm kinh nghiệm trong ngành dầu khí, ông Nguyễn Hữu Văn - Chủ tịch HĐQT Công ty CP VN Oil, nhận ra cơ hội và quyết tâm biến nguồn dầu thải này thành nguyên liệu mang lại giá trị kinh tế cao. 


* Mục đích của ông khi trở về Việt Nam là do nhìn thấy nhiều cơ hội kinh doanh?


- Không hẳn vậy. Năm 1969 tôi sang Tây Đức học ngành kỹ sư cơ khí, sau đó qua Mỹ lập nghiệp. Hơn 30 năm sống xa đất nước, tôi vẫn luôn nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn và mong có ngày được trở về sống ở quê nhà.

Ở nơi xứ người, dù cuộc sống không thiếu thốn và sự nghiệp ổn định, vợ tôi là kỹ sư hoá và bác sĩ nha, các con đều là bác sĩ, bản thân tôi được Công ty Smith International đánh giá cao, cụ thể vào thời điểm khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, Công ty sa thải gần 4.000 nhân viên nhưng trong số 400 người được giữ lại, tôi là người Việt Nam hiếm hoi trụ vững.

Tuy nhiên, ở nơi xa xôi ấy, tôi vẫn luôn thấy thiếu, thiếu sự ấm áp được sống trên xứ sở của mình, thiếu không khí nôn nao, chộn rộn mỗi khi Tết đến xuân về, thiếu tiếng rao đêm, thiếu gánh hàng rong của mẹ ngày xưa tảo tần và tiếng võng kẽo kẹt đã đi vào ký ức không thể quên thuở thiếu thời...

Năm 1990, lần đầu trở về Việt Nam, dù đất nước còn nghèo, tôi đã có ý định muốn làm một cái gì đó cho quê hương. Lúc đó, ngành dầu khí của Việt Nam rất tiềm năng nhưng công nghệ khoan lấy dầu còn lạc hậu, trong khi ở Mỹ công nghệ và kỹ thuật khoan rất tối tân, chẳng hạn như khoan xiên. Với kinh nghiệm nhiều năm làm việc trong ngành dầu khí và là kỹ sư thiết kế choòng khoan, tôi nghĩ, mình có thể đem sự hiểu biết, kinh nghiệm kỹ thuật khoan trên thế giới về áp dụng ở Việt Nam để giải quyết hạn chế này.

Đầu năm 1994, khi Mỹ bỏ cấm vận đối với Việt Nam, về nước, được sự chấp thuận của Petro Vietnam, tôi tổ chức Hội thảo Kỹ thuật khoan trên thế giới. Tôi mời các chuyên gia, giáo sư trong ngành khoan dầu về dạy kỹ thuật cho nhân viên trong ngành và đưa 15 kỹ sư Việt Nam qua Mỹ đào tạo.

Mười lăm người này lại trở về tiếp tục đào tạo cho các kỹ sư khác ở Trung tâm Đào tạo dầu khí Vũng Tàu, nay là Trường Đào tạo dầu khí Vũng Tàu. Tuy chỉ là những đóng góp nhỏ bé nhưng tôi cảm thấy rất vui vì đã đem lại sự thay đổi về tư duy cho một số chuyên viên, lãnh đạo trong ngành lúc bấy giờ, giúp họ có cái nhìn về công nghệ mới. Hiện nay, ngành dầu khí Việt Nam đã phát triển tốt, đóng góp quan trọng cho nền kinh tế. Có thể nói tôi là một trong những giọt dầu được đóng góp vào giá trị đó.

* Trong rất nhiều hạnh phúc có được khi trở về Việt Nam, hạnh phúc nào ông cho là lớn nhất?

- Năm 2000, tôi làm đại diện cho một số công ty lớn trong ngành dầu khí như Smith International, ABB, Invensys, Ingersoll Ranch, WorleyParson tại thị trường Việt Nam, thực hiện nhiều chương trình tư vấn thiết kế, giám sát xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương, Vũng Áng và là một trong ba người thành lập Công ty Tư vấn thiết kế WorleyParson Petro Vietnam. Được sống và làm việc tại quê nhà, tôi cảm thấy ấm áp và cuộc đời có ý nghĩa hơn.

Ở nước ngoài, tôi đi làm đơn thuần chỉ để ăn lương, sau 8 giờ làm việc thì về nhà, không có mục đích gì, không có mục tiêu đóng góp, cống hiến gì cho ai. Vì vậy, khi được hòa mình vào công cuộc xây dựng đất nước, được cống hiến, đem sự hiểu biết làm những việc có ích cho quê hương mình, tôi thấy có nhiều động lực và đó là hạnh phúc lớn nhất.

Trong quá trình phát triển công nghiệp, tôi thấy Việt Nam có một lượng dầu nhờn thải khoảng 500 triệu lít mỗi năm. Nhiều năm qua, một phần lượng dầu này đã được người ta thu gom đem về xử lý sơ sài bằng cách đốt (hay còn gọi là chưng) làm giảm tạp chất, sau đó pha hóa chất đặc trưng để giả dầu nhờn mới rồi bán cho các chủ phương tiện vận chuyển cả cá nhân lẫn công cộng, thậm chí dùng cho máy phát điện.

Với cách làm ấy, chi phí vốn không nhiều nhưng nguồn lợi nhuận thu về rất cao, ít nhất là 50%, song nó lại gây hại rất lớn cho môi trường vì không được xử lý, lượng chất thải rắn, khí nguy hại cứ xả thẳng ra môi trường. Trên thế giới, để có dầu gốc, một là khoan trực tiếp vào mỏ dầu dưới lòng đất để lấy dầu thô về lọc, tiêu tốn hàng tỷ USD vì phải đầu tư nhà máy lọc dầu, tách tạp chất trong dầu thô cực kỳ phức tạp.

Hai là sử dụng công nghệ cao hydrotreating loại bỏ chất lưu huỳnh, ni tơ và nhiều chất độc hại khác trong dầu nhờn đã qua sử dụng để vừa có được nguồn dầu gốc chất lượng cao, vừa bảo vệ môi trường. Xét về mặt chi phí thì cách thứ hai ít tốn kém hơn, chi phí đầu tư nhà máy chỉ bằng một phần mười so với cách thứ nhất.

Sau một thời gian tìm tòi công nghệ phù hợp, tôi quyết tâm lên kế hoạch xây dựng nhà máy xử lý dầu nhờn thải và sản xuất dầu gốc trên diện tích 5ha tại Bình Dương, sau đó sản xuất dầu gốc chuẩn API II theo công nghệ của Công ty CEP, Mỹ. Đây là nhà máy đầu tiên ở Đông Nam Á và độc quyền ở Việt Nam ứng dụng công nghệ tiên tiến nhất, đáp ứng đồng thời hai tiêu chí bảo vệ môi trường qua việc xử lý dầu nhờn thải, tiết kiệm một khoảng không nhỏ ngoại tệ cho đất nước để nhập dầu gốc hằng năm.

* Nhưng cơ hội nào thì cũng có không ít thách thức và trở ngại? 

- Cái gì đi đầu, mới mẻ thì cũng gặp khó, huống chi đây là một công nghệ hoàn toàn mới và lĩnh vực này không phải ai cũng hiểu, cũng biết, thậm chí nhiều cơ quan cho rằng đây là lĩnh vực gây ô nhiễm môi trường nên không cấp phép. Phải qua sáu lần với đội ngũ 60 giáo sư, tiến sĩ am hiểu lĩnh vực này thẩm định, đánh giá là công nghệ tiên tiến, cần áp dụng tại Việt Nam nên sau ba năm tôi mới có được giấy chứng nhận đầu tư.

Đặc biệt, năm 2014, dự án này được Chính phủ đưa vào danh mục công nghệ cao được ưu tiên phát triển theo Quyết định 66/2014/QĐ-TTg. Năm 2015, VN Oil được Bộ Khoa học và Công nghệ chứng nhận ứng dụng công nghệ cao, được hỗ trợ đến năm 2020, đồng thời được Bộ Tài chính hướng dẫn Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) cho vay 85% vốn để xây dựng nhà máy.

Tuy chủ trương đã có nhưng để thực hiện được dự án là cả chặng đường dài với nhiều trở ngại và một núi việc phải làm, nào là mặt bằng, khảo sát địa chất, đào tạo nguồn nhân lực..., việc gì cũng gặp không ít trở ngại. Song, khó nhất vẫn là vốn do dự án vẫn chưa được VDB giải ngân.

Để có tiền đầu tư, tôi đã tìm đến Ngân hàng Eximbank của Mỹ giải trình về hiệu quả kinh tế của dự án và đã được ngân hàng này bảo lãnh cho vay 100 triệu USD và Ngân hàng ING của Hà Lan đồng ý cung cấp tiền, chỉ còn thiếu một ngân hàng Việt Nam đứng ra làm thủ tục nhận tiền để giải ngân cho dự án. Vì vậy mà phải đến cuối năm nay VN Oil mới tiếp nhận dầu nhờn thải sau khi xây xong sáu bồn chứa mỗi bồn có dung tích 5.000 tấn và gần cuối năm 2018 nhà máy mới chạy thử đơn động, đầu năm 2019 vận hành thương mại.

* Ông có thể chia sẻ hiệu quả kinh tế của nhà máy mà ông đã thuyết phục được Eximbank?

- Một năm Việt Nam nhập 400.000 tấn dầu gốc, sau khi cộng thêm chi phí khoảng 20% phụ gia sẽ cho ra 500 triệu lít dầu nhờn. Năm trăm triệu lít dầu này sau khi sử dụng sẽ trở thành dầu thải, do đó, đây là nguồn nguyên liệu đầu vào rất lớn. Với một nhà máy có công suất 62.000 tấn/năm, VN Oil mới chỉ sử dụng một phần rất nhỏ của nguồn nguyên liệu thải ra mà lại sản xuất được 45.000 tấn dầu gốc một năm, sau khi trừ hết chi phí, nếu nhân 62.000 tấn với giá thuê xử lý dầu thời điểm này là 10.000 đồng/kg, ước tính lợi nhuận thu được sẽ là 620 tỷ đồng.

Nhà máy này còn thu thêm phụ phẩm là nhựa đường khoảng 9.000 tấn/năm, bán giá thấp nhất cũng được 500USD/tấn. Rõ ràng tái chế dầu nhờn có giá rẻ và đơn giản hơn nhập khẩu do không mất tiền chuyên chở, thuế nhập khẩu, phí logistics và không phải mở L/C. Đơn cử tại thời điểm này, giá dầu gốc dao động từ 650USD đến 700USD/tấn nhưng khi về Việt Nam cộng chi phí vận chuyển, môi giới sẽ có giá ít nhất là 1.000USD/tấn, trong khi giá dầu gốc của VN Oil thấp hơn khá nhiều.

Nhiều năm làm trong ngành dầu khí, từng là kỹ sư thiết kế hệ thống khoan dầu của Smith International, một trong hai Công ty chế tạo choòng khoan dầu lớn nhất trên thế giới, tôi hiểu rằng, ở đâu có dầu khí, ở đó có lợi nhuận. Lượng dầu thải ở Việt Nam quá lớn, trong khi ở Mỹ và các nước châu Âu, họ ước tính một lít dầu nhờn thải ra sẽ gây ô nhiễm 3,75km2 mặt đất nên đã tìm cách xử lý từ 30 năm trước, còn ở Việt Nam thì rất lạ lẫm với công nghệ này. Tôi chỉ nghĩ làm thế nào xử lý được nhanh vấn đề ô nhiễm môi trường, chứ chưa nghĩ đến lợi nhuận.

* Việc thu gom nguồn dầu thải chắc là không đơn giản, phải không, thưa ông?

- Không khó. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 của Quốc hội Khóa XIII và Quyết định 16/2015 của Chính phủ có quy định: các công ty sản xuất dầu nhờn phải thu hồi và đưa đi xử lý nguồn dầu thải, vì vậy, các công ty dầu nhờn BP, Petrolimex, Shell, Motul, Castrol đều có phương án thu gom và hợp tác với VN Oil để xử lý nguồn dầu phế thải này. Chỉ tính mức giá trung bình 50cent/kg để thu gom, xử lý, doanh thu của VN Oil ở mảng này đủ trả chi phí vận hành nhà máy.

* Với lợi nhuận khá hấp dẫn cùng với nhiều lợi ích cho môi trường, ông có ngại sẽ có nhiều nhà đầu tư "lấn sân" sang lĩnh vực này để canh tranh với VN Oil?

- Khả năng của VN Oil cũng mới chỉ xử lý được một lượng nhỏ nguồn dầu thải và mới chỉ đáp ứng được 15% nhu cầu của thị trường. Lượng dầu thải phải xử lý cần ít nhất 4 nhà máy như của VN Oil mới đáp ứng đủ nhu cầu. Khi đó, Việt Nam tiết kiệm được ít nhất là 500 triệu USD mỗi năm để nhập khẩu dầu gốc đồng thời làm chủ nguồn năng lượng rất quan trọng này.

Tuy nhiên, muốn làm trong lĩnh vực này, ngoài nguồn vốn đầu tư khá lớn, khoảng 110 triệu USD cho một nhà máy công suất 62.000 tấn/năm, nhà đầu tư còn phải có kinh nghiệm và phải chấp nhận đi đường dài vì đây là lĩnh vực không dành cho nhà đầu tư muốn tìm ngay lợi nhuận.

* Cơ hội kinh doanh tại Việt Nam rất lớn, nhưng để thành công, yếu tố nào từ phía nhà đầu tư ông cho là quan trọng nhất?

- Phải có niềm tin vào chính mình cũng như lĩnh vực đầu tư và niềm tin này phải được đặt trên nền tảng kiến thức và nội lực. Bên cạnh đó, làm gì cũng phải có tâm, có chí, bởi không có tâm mà chỉ nghĩ đến lợi thì sẽ nóng lòng, mà nóng lòng thì sẽ không đủ sức bền và sự kiên nhẫn để theo đuổi ý tưởng.

* Theo ông, chính sách đầu tư của Việt Nam cho doanh nhân Việt kiều cần cải thiện thêm điều gì?

- Điểm mạnh của doanh nhân Việt kiều ngoài năng lực và nguồn tài chính, còn có mối quan hệ với cộng đồng kinh doanh các nước tiên tiến, với các công ty đa quốc gia nên dễ kết nối đầu tư và xây dựng lòng tin với đối tác quốc tế. Vì vậy, ngoài việc đầu tư, nhiều doanh nhân Việt kiều còn là cầu nối giúp doanh nghiệp nước ngoài mở rộng đầu tư sang Việt Nam.

Chính sách đầu tư của Việt Nam hiện nay là rộng mở, nhưng khi triển khai thì vẫn chưa thông thoáng khiến thủ tục vẫn còn nhiều rào cản và trở nên xa rời chính sách. Đó cũng là rào cản khiến nhiều doanh nhân Việt kiều ngại đầu tư.

* Ngoài kinh doanh, vấn đề nào trong xã hội hiện nay được ông quan tâm nhiều nhất?

- Giới trẻ Việt Nam hiện nay đang ngày càng bị "Tây hóa" và xa rời văn hóa gia đình. Đó là điều rất đáng tiếc, đáng lo. Với tâm niệm gia đình chính là nơi lưu giữ giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc, nên khi ở nước ngoài tôi đã dạy các con nhớ về văn hoá cội nguồn. Cụ thể, khi ở nhà thì không nói tiếng Mỹ, gia phong, lễ nghi của người Việt đều được tôi đưa vào nếp sống gia đình, nhất là phong tục trong những ngày Tết. Những bữa ăn gia đình vào cuối tuần là dịp cùng nhau chia sẻ, nhắc nhớ về cội nguồn, tổ tiên, ông bà và quê hương.

* Cám ơn ông về những chia sẻ rất cởi mở!
DNSG
Share:

Khởi nghiệp: Hãy bắt đầu với thị trường tiền tiêu

Các bạn trẻ khởi nghiệp lần đầu thường mắc phải cái gọi là “hội chứng Trung Quốc”. 


Một thanh niên có bố mẹ làm nghề may. Một ngày nọ, cậu ta nghĩ mình có thể may gấu bông để bán. Cậu quyết định khởi nghiệp, bán gấu bông cho các bạn trai tặng bạn gái. Cậu ta bắt đầu nghiên cứu tính khả thi của ý tưởng này.

Ở Hà Nội có hơn 3 triệu người, trong đó một nửa là nữ, 1,5 triệu người. Thị trường mục tiêu của cậu ta là nữ giới đang yêu, tuổi từ 23 đến 27, khoảng 400.000 người.

Chỉ cần mỗi năm, người yêu tặng các bạn nữ 1 con gấu bông vào ngày sinh nhật, mỗi con lãi 50 ngàn đồng, tính ra trong một năm cậu ta lãi 20 tỷ đồng.

Giả sử sinh nhật của các bạn nữ được phân bố đều, mỗi ngày cậu ta sẽ bán được khoảng 1.000 con. Thế là đảm bảo dòng tiền, cậu ta quyết định khởi nghiệp.

Nếu bạn thấy trường hợp của mình giống anh chàng đó, thì xin chúc mừng, bạn đã mắc phải "hội chứng Trung Quốc".

Hội chứng Trung Quốc được “mô tả” như sau: dân số Trung Quốc là 1,2 tỷ người. Nếu tôi bán cho dân Trung Quốc mỗi người 1 cái bàn chải đánh răng, mỗi bàn chải giá 1 USD, thì doanh thu của tôi là 1,2 tỷ USD. Tuyệt vời!

Được biết, trong Chiến tranh thế giới II, quân Đồng minh muốn đưa quân vào châu Âu để đánh phát xít Đức. Sau nhiều cân nhắc lựa chọn, Thủ tướng Anh Churchill chọn bờ biển Normandy làm nơi đổ bộ.

Từ bờ biển này, quân Đồng minh có thể chiếm lấy một vùng lân cận để thiết lập căn cứ. Vùng này dễ thủ khó công nên quân Anh có thể đứng vững, và dần dần đổ bộ nhiều quân hơn lên đất châu Âu.

Khi Pháp đổ quân vào tái chiếm Việt Nam, họ chọn Điện Biên Phủ là nơi chiếm đóng đầu tiên. Do địa hình núi bao quanh, quân thô sơ Việt Nam không thể vượt qua được (ít ra là họ nghĩ thế). Từ đó, họ bắt đầu xây sân bay, dùng lợi thế máy bay để đổ bộ lính, cấp quân nhu nhằm đánh chiếm toàn Việt Nam.

Đối với quân Đồng minh, thị trường mục tiêu của họ là châu Âu. Nhưng thị trường tiền tiêu của họ là bờ biển Normandy.

Đối với quân Pháp, thị trường mục tiêu của họ là Việt Nam. Nhưng thị trường tiền tiêu của họ là Điện Biên Phủ.

Đối với khởi nghiệp, thị trường tiền tiêu là một thị trường để bạn đứng chân thật vững, trước khi mở rộng hơn.

Khi mới bắt đầu kinh doanh, kinh nghiệm về ngành nghề và nguồn lực chưa đủ, nếu nhắm vào thị trường quá lớn, bạn sẽ hết tiền trước khi kiểm soát được thị trường. Vì vậy, bạn cần tìm một thị trường tiền tiêu để khởi đầu.

Thị trường tiền tiêu phải đủ lớn để có dòng tiền dương. Nhưng phải đủ nhỏ để bạn chắc chắn đứng vững, không thu hút các ông lớn, và loại bỏ cạnh tranh với những đối thủ cũng muốn chen chân vào.

Thị trường tiền tiêu phải có 3 yếu tố sau:

- Có thể đánh chiếm được
- Có thể giữ được (loại bỏ được các yếu tố cạnh tranh)
- Có thể mở rộng được. Điều này có nghĩa là khi mở rộng sang thị trường tiếp theo, bạn không cần phải thay đổi quá nhiều trong mô hình kinh doanh ban đầu.

Thực hiện thế nào?

Nếu là người bán gấu bông như chàng trai ở trên, bạn cần phân khúc nhỏ hơn thị trường mục tiêu.

Bạn bán gấu bông lớn (to bằng người) hay gấu bông nhỏ (to bằng con mèo). Bán 1 con hay bán theo đôi? Bán gấu bông màu gì? Gấu có mặc quần áo không. Gấu có đội mũ không? Gấu có cầm hình trái tim không?

Những đặc tính sản phẩm đó sẽ tương ứng với một phân khúc khách hàng.

Hãy:
- Vẽ ra chân dung của 6 đến 12 khách hàng mục tiêu bạn muốn nhắm tới (đừng lo nếu bạn không vẽ được ngay, trong quá trình nghiên cứu thị trường và trau chuốt sản phẩm, các khách hàng mục tiêu dần hiện rõ ra).
- Tính toán độ lớn thị trường ứng với mỗi khách hàng mục tiêu bạn vẽ ra.
- Xác định một thị trường trong số danh sách bạn đã lập ra làm thị trường tiền tiêu. (Nên hỏi những người có kinh nghiệm hoặc người cố vấn của bạn).
Khi nguồn lực có hạn, hãy dồn hết mọi thứ vào một cuộc đổ bộ. Và đứng cho thật vững trước khi lao đi.

PHẠM TỨ QUÝ - CTO Kloon Vietnam (Nội dung này đã được đăng trong Group FB Quản trị và Khởi nghiệp)
DNSG
Share:

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?

Follow by Email