Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Thứ Năm, 26 tháng 10, 2017

Cuốn sách 259 năm tuổi bất cứ CEO nào cũng nên đọc

Nữ CEO Eligible, người đứng đầu một trong những công ty chuyên cung ứng cơ sở hạ tầng y tế hàng đầu ở nước Mỹ chia sẻ bản thân đã học hỏi được nhiều điều từ cuốn “Con đường dẫn đến sự giàu có” của tác giả Benjamin Franklin. 

Katelyn Gleason là tổng giám đốc điều hành của Eligible, một trong công ty về cơ sở hạ tầng y tế lớn tại Mỹ. Chia sẻ với CNBC, nữ CEO 32 tuổi cho biết trong những ngày đầu thành lập công ty bà và đồng nghiệp cũng gặp không ít khó khăn vì chưa có định hướng cụ thể. Mỗi khi cảm thấy bế tắc, bà lại tìm kiếm một cuốn sách để đọc. Lần đầu tiên Katelyn đọc được cuốn “The Way to Wealth” (tạm dịch: Con đường đến sự giàu có) của Benjamin Franklin vào năm 2011, khi đó bà vẫn đang ở New York.

“Con đường dẫn đến sự giàu có” là một trong những tác phẩm đời đầu của “người cha khai quốc” Benjamin Franklin với bút danh Richard Saunders mà Katelyn may mắn đọc được. Đó là một tác phẩm đầy tham vọng về con đường thành công và làm giàu được xuất bản như lời nói đầu trong cuốn “Niên lịch của Richard nghèo khổ năm 1758” và tái bản với hơn 100 ngôn ngữ dưới tựa đề: “Con đường dẫn đến sự giàu có”.

Niên lịch của Richard nghèo khổ cùng với những cuốn Tự truyện của Benjamin đã khai sáng bản sắc Mỹ, hướng tới xây dựng hình ảnh con người tự lập, lý trí và đầy đam mê. Nhân vật trong mỗi câu chuyện của Franklin không hề hư câu mà ông thường viết về chính bản thân mình, ông là nhân vật có thực.

Trong đó, Benjamin Franklin có viết một câu kinh điển trở thành châm ngôn chỉ đường dẫn đến sự thành công của nhiều doanh nhân: “Những thứ cần thiết không bao giờ phải thương lượng”. Và đó cũng là lời khuyên tốt nhân nữ CEO nhận được sau khi đọc cuốn sách 259 năm tuổi này.

“Những từ ngữ này thật sự đã truyền cảm hứng cho tôi. Tôi nhận thấy rằng cho tới khi tôi trả hết nợ, tôi vẫn phải hạn chế sự lựa chọn nghề nghiệp hiện tại và tương lai. Tôi nên tập trung nhiều hơn vào việc tiết kiệm đến khi chẳng còn nợ nần gì”, Katelyn Gleason - nữ CEO của Eligible từng có quãng thời gian khởi nghiệp đầy khó khăn chia sẻ.


 "Con đường dẫn đến sự giàu có" là cuốn sách khai sáng sự nghiệp của tôi.

Benjamin Franlin luôn tâm niệm “siêng năng và cần kiệm làm nên sự giàu có”. Ông cho rằng nhiều người chỉ vì phục trang xa hoa trên người mà phải ôm bụng vì đói, làm kiệt quệ gia đình. Lụa là gấm vóc không phải là những thứ thiết yếu trong cuộc sống còn những thứ tốt như tri thức thì không bao giờ cần phải thương lượng. Hãy nhìn Warren Buffett, nhà đầu tư thành công nhất thế giới vẫn thích những châm ngôn của Franklin và sống theo chủ nghỉ cần cù, tiết kiệm và ghét nợ nần.

Tuy vậy, Benjamin Franklin không chỉ được biết đến là con người cần kiệm mà ông còn được biết đến nhiều hơn bởi tính mạo hiểm và phiêu lưu để làm giàu. “Cho đến hiện tại câu nói này vẫn định hướng giúp chúng tôi cải tổ cách tiếp cận tài chính của công ty. Đó cũng là lý do vì sao chúng tôi quyết định chờ đợi cho đến khi đủ điều kiện trước khi huy động nguồn vốn mạo hiểm. Để tiếp cận được với những nhà đầu tư tiềm năng thì chúng tôi cũng phải ở một vị trí quyền lực. Điều đó cho phép chúng tôi có nhiều lựa chọn hơn và cũng được đầu tư nhanh chóng và hiểu quả hơn”, Katelyn chia sẻ

Bên cạnh đó, nữ CEO cũng luôn tâm đắc với câu nói “Đầu tư vào tri thức là sự đầu tư có lợi nhất” của Benjamin Franklin. Nó là lời khuyên cho mọi người nếu muốn chạm đến thành công dù trong thời gian nào. Giống như triệu phú tự thân Steve Siebold từng đề cập trong những ấn phẩm bán chạy nhất của ông: “Người giàu suy nghĩ như thế nào” và “Đẳng cấp thế giới: thà được giáo dục còn hơn là giải trí”.

Những người thành công đánh giá rất cao sức mạnh của việc học tập ngay cả sau khi đã tốt nghiệp đại học hoặc bất kỳ chương trình giáo dục nào. “Nếu ghé thăm tư gia của một người giàu có, điều đầu tiên bạn sẽ thấy chính là thư viện sách phong phú mà họ sử dụng để giáo dục bản thân trở nên thành công hơn”, triệu phú Steve Siebold viết.

Nữ CEO của Eligible cũng tiết lộ trong quá trình xây dựng sự nghiệp của mình, bà đã xem qua mọi thứ có thể tìm thấy trực tuyến và tự nghiên cứu cách điều hành công ty. Cho đến hiện tại, bà vẫn tập trung vào việc tự học nhiều hơn: “Nếu tôi cảm thấy quá tải sau nhiều giờ làm việc liên tục thì tôi sẽ tìm kiếm vài thức để đọc và cảm nhận về một nhân vật truyền cảm hứng nào đó như Steve Jobs, Marie Curie hay Katharine Hepburn. Với tôi, học tập là không bao giờ lãng phí”.

>> Những bài học về tiền bạc từ Benjamin Franklin 


(Theo Trí thức trẻ/CNBC)
Share:

Bài học đầu tư từ thói quen ăn uống của Warren Buffett

Chế độ ăn của Buffett tiết lộ nhiều đặc điểm trong chiến lược kinh doanh của ông. 



Warren Buffett sở hữu khả năng đầu tư khó ai có thể có được cùng danh mục công ty độc đáo.

Một đặc điểm riêng có lẽ chỉ có ở Buffett chính là chế độ ăn của ông. Theo Buffett, ông đang thực hiện chế độ ăn của một đứa trẻ sáu tuổi với những lon Coca Cherry, đồ ăn vặt và đậu phộng giòn…

Chế độ ăn này cùng chiến lược đầu tư của ông có những điểm chung bất ngờ.

1. Trung thành với những gì mình hiểu rõ

Buffett hiếm khi thay đổi. Ông thường đến những nhà hàng quen thuộc tại quê hương Omaha, Nebraska, và tại New York ông cũng thường dùng bữa tại cùng một nhà hàng bít tết. Buffett ăn sáng dựa trên diễn biến của thị trường chứng khoán: nếu thị trường giảm điểm, ông sẽ tự cắt giảm khẩu phần ăn sáng của mình.

Thói quen này xuất phát từ sự hiểu biết kỹ lưỡng của ông về mỗi nhà hàng ông tới. Buffett tìm hiểu và tìm ra điều mình thực sự muốn và điều ông sẽ nhận được từ mỗi bữa ăn.

Tương tự như những hiểu biết sâu rộng của ông về nơi ông dùng bữa, Buffett nghiên cứu và hiểu rõ về các công ty ông đầu tư. Buffett là một người đọc hiểu biết và thường nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi đầu tư.

2. Đam mê nhưng không vội vã

Một khi Buffett đã hiểu được mình muốn điều gì từ một bữa ăn, hoặc một phi vụ đầu tư, ông sẽ bắt tay vào thực hiện.

Thực đơn một bữa ăn của Buffett có thể có cả bít tết, hamburger, những món ăn thêm muối hay đậu phộng giòn. Tương tự như vậy, lựa chọn đầu tư của ông cũng rất phong phú.

Ví dụ, Buffett sở hữu trên 100 triệu cổ phiếu của bảy công ty niêm yết và trên 5% cổ phiếu của 20 công ty khác, chưa kể đến những thương vụ "khủng" mua lại các doanh nghiệp tư nhân như Percision Castparts với mức giá 37,2 tỉ USD vào năm 2015 hay Hãng đường sắt BNSF với mức giá 44 tỉ USD vào năm 2009.

Khi Buffett muốn đầu tư, ông tìm hiểu rất kỹ về công ty đó và thường đầu tư khá lớn.

3. Sự say mê

Buffett thực sự yêu thích Coca vị anh đào. Có lẽ, tình yêu của ông dành cho Coca vị anh đào chỉ xếp sau gia đình.

Buffett không chỉ hiểu rõ ông muốn điều gì, như Coca anh đào, mà ông còn gắn bó với những điều đó vì ông say mê chúng.

Trong một cuộc phỏng vấn vào năm 2012, ông từng nói: “Hãy theo đuổi đam mê của bạn. Tôi luôn nói với các bạn sinh viên rằng hãy làm công việc bạn muốn nếu bạn độc lập về tài chính. Bạn sẽ thành công.”

Đây có lẽ là một lời khuyên tiêu chuẩn về cuộc sống, nhưng lời khuyên này dường như không thể áp dụng đối với mức độ gắn bó của Buffett với những quyết định đầu tư mà ông cho là an toàn của mình.

Ví dụ, với khoản đầu tư của ông vào American Express, Buffett kiểm soát trên 17% cổ phần công ty, và công ty này đã trải qua một vài năm khá khó khăn. Giá cổ phiếu giảm mạnh từ 95 USD/ cổ phiếu vào giữa năm 2014 xuống còn khoảng 50 USD/ cổ phiếu vào giữa năm 2016. Hãng mất đi Costco, một trong những khách hàng quan trọng nhất, khiến "hệ sinh thái thanh toán" của công ty này đổ bể.

Dù vậy, Buffett vẫn không ngừng đầu tư vào American Express - cổ phiếu mà ông đã nắm giữ từ năm 1991. Thậm chí, ông còn ủng hộ Kenneth Chenaut, CEO của công ty, cho tới ngày Chenaut nghỉ hưu. Và mặc dù công ty này vẫn đang phải đối mặt với nhiều rắc rối, nhưng giá cổ phiếu lại tăng mạnh trở lại.

Buffett tiếp tục đầu tư bởi ông thực sự tin tưởng. Và ông không thay đổi chế độ ăn bởi ông thực sự yêu thích chúng.

>> Đây là bài học đắt giá nhất mà Warren Buffett rút ra sau 77 năm chơi chứng khoán
 


(Theo Trí thức trẻ/Business Insider)
Share:

Ở Nhật Bản có một tập đoàn giống hệt Berkshire Hathaway của Warren Buffett, ông chủ thậm chí còn ‘điên’ hơn

"Chúng tôi coi Softbank như một dạng Berkshire Hathaway trong lĩnh vực công nghệ", chuyên gia phân tích Chris Lane viết trong nghiên cứu. Chuyên gia Lane nhấn mạnh rằng lợi nhuận các nhà đầu tư vào Softbank thu về được chẳng thua kém Berkshire Hathayway là mấy. Trên thực tế, Lane còn tìm ra nhiều điểm chung khác giữa hai tập đoàn này. 

Một nghiên cứu từ công ty Sanford C. Bernstein & Co kết luận rằng tập đoàn Softbank của ông Son sắp trở thành Berkshire Hathaway thứ hai. Tờ Bloomberg liền đặt ngay câu hỏi tỷ phú "liều ăn nhiều" Masayoshi Son - ông chủ tập đoàn Softbank của Nhật Bản có phải là một Warren Buffett thứ hai hay không.

Softbank sử dụng tiền thu được từ mảng kinh doanh cốt lõi là viễn thông để đầu tư vào những công ty hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau như thương mại điện tử, thiết kế bộ vi xử lý và robot. Không có nhiều sự liên đới giữa các mảng kinh doanh của tập đoàn này.

Nghe rất giống Berkshire Hathaway phải không? Công ty của tỷ phú Warren Buffett tận dụng tiền thu được từ công ty bảo hiểm để đầu tư vào những doanh nghiệp khác. Dù khởi đầu trong ngành công nghiệp dệt sợi nhưng giờ Berkshire Hathaway lại có cổ phần trong Netjets rồi cả Coca Cola.

"Mảng kinh doanh cốt lõi của Berkshire Hathaway là ‘value investing’ (đầu tư giá trị) chứ không phải bảo hiểm. Trong khi đó mảng kinh doanh cốt lõi của Softbank có thể coi là ‘tech investing’ (đầu tư công nghệ) chứ không phải viễn thông", Lane viết.

Có một điểm khác nhau giữa hai tập đoàn thế này: 10 năm trước, nếu đầu tư vào Berkshire, tỷ suất lợi nhuận của các nhà đầu tư sẽ đạt 120% và trong cùng khung thời gian đó, nếu đầu tư vào Softbank tỷ lệ tương tự sẽ là 300%. Lane chỉ ra rằng từ 2001 đến nay, cổ phiếu của Berkshire vượt trội hơn mức trung bình các cổ phiếu trong chỉ số Công nghiệp Dow Jones khác là 175%, trong khi con số tương tự trên bảng Nikkei của Softbank lên tới 540%.



Tuy nhiên, nếu bàn đến một vài chỉ số như P/E thì Softbank vẫn đang thua xa so với Berkshire. Giải thích cho hiện tượng này, Lane nói rằng do các nhà đầu tư có cảm giác tin tưởng vào Buffett và những thành tựu ông đã đạt được trong khi đó Son vẫn đang phải chứng minh bản thân thông qua rất nhiều khoản đầu tư vào các công ty tư nhân.

"Vậy tại sao chúng ta chưa bao giờ nghe thấy những danh xưng kiểu "Huyền thoại xứ Tosu" (quê hương của Son) hay "Huyền thoại Tokyo" (nơi Son sống)? Có vẻ như các nhà dầu tư tin tưởng vào Buffett và hiểu về cách tiếp cận đầu tư giá trị của ông ấy hơn. Trong khi đó, họ tỏ ra lo ngại về những khoản đặt cược lớn vào tương lai của Son".

Những thương vụ lớn của Son nhiều khả năng sẽ cho trái ngọt trong 10 năm tới. Thông qua quỹ Vision Fund trị giá 100 tỷ USD, Softbank đang đầu tư vào rất nhiều công ty tư nhân bao gồm Slack Technologies, WeWork và họ cũng đang lên kế hoạch đầu tư vào Uber.

Bản thân Lane cũng tỏ ra rất tin tưởng vào Son khi để mức giá mục tiêu cho cổ phiếu Softbank là 13.500 yen/1 cổ phiếu - tức là lớn hơn 35% so với mức giá trong phiên đóng cửa thứ 6 tuần trước.

 
 Trí thức trẻ
Share:

“Sói già phố Wall” khẳng định hoạt động ICO là phi vụ lừa đảo lớn nhất từ trước đến nay

Theo Jordan Belfort, cơn sốt tiền ảo sẽ khiến nhiều người “vỡ mộng”. 

Jordan Belfort, một cựu môi giới cổ phiếu, hình mẫu xây dựng nhân vật chính trong bộ phim “Sói già Phố Wall”, mới đây đã khẳng định trào lưu phát hành tiền số lần đầu ra công chúng (ICO) là “phi vụ lừa đảo lớn nhất từ trước đến nay” và có thể “nổ tung” bất cứ lúc nào.

Belfort đưa ra cảnh báo này sau khi hoạt động ICO ngày càng trở nên phổ biến. Trong năm nay, theo Coinschedule.com, 202 vụ ICO đã huy động được tổng cộng trên 3 tỉ USD. Khoản vốn này chủ yếu tập trung ở các dự án đầu tư mạo hiểm hứa hẹn sẽ nâng cao trải nghiệm giao dịch và đầu tư tiền số.

Tuy nhiên, thị trường tiền số hiện đang trong tầm ngắm của các cơ quan quản lý. Những cơ quan này lo ngại rằng các nhà đầu tư nhỏ đang bị lừa gạt bởi những hứa hẹn về lợi nhuận khổng lồ. Tháng trước, ngân hàng trung ương Trung Quốc đã cấm huy động vốn thông qua kênh ICO, và khẳng định hoạt động này ảnh hưởng nghiêm trọng tới trật tự kinh tế và tài chính. Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý tại Anh cho biết các nhà đầu tư nên chuẩn bị tinh thần cho viễn cảnh giá trị của các đồng tiền số có thể tụt xuống 0.

Belfort từng chịu 22 tháng tù giam sau khi nhận tội lừa đảo cổ phiếu và rửa tiền. Ông đã chỉ ra sự tương tự giữa xu hướng ICO hiện nay và trào lưu “góp vốn chung chung” (blind pools) trong những năm 70 và 80. Khi đó, nhiều công ty đã huy động vốn từ các nhà đầu tư dù chưa trình bày chi tiết cách thức sử dụng vốn. Sau đó nhiều "pool" đã bị giải thể dù chưa hoạt động đầu tư nào được tiến hành và nhiều nhà môi giới đã kịp thời ôm tiền bỏ trốn. Theo Belfort, những người ủng hộ hoạt động ICO đang tiến hành một phi vụ lừa đảo khổng lồ.



 Diễn viên nổi tiếng Leonardo DiCaprio là người thủ vai nhân vật chính trong bộ phim "Sói già phố Wall".

Ngược lại, các start-up cho rằng ICO là một phương thức huy động vốn hợp pháp, đó là một phong trào đang lan rộng đe dọa sẽ làm gián đoạn hoạt động huy động vốn của các ngân hàng và doanh nghiệp lớn. Những người mua mã token trong ICO sẽ có quyền sử dụng một dịch vụ trong tương lai khi dịch vụ này đi vào hoạt động, hoặc được chia lợi nhuận.

Tuy nhiên, theo Belfort thì phương thức bán trong ICO khá tương tự với chiến lược “bơm thổi và đổ vỏ” (pump and dump) của các "sói già phố Wall" trong các "boiler room". Nếu dịch nghĩa chính xác thì "boiler room" có nghĩa là phòng lò hơi, tức là đầy hơi nóng và sức ép do hơi nóng tạo ra. Còn trong thị trường tài chính, đây là cụm từ được dùng để ám chỉ phòng làm việc của dân sale, trong đó các môi giới gọi điện cho các nhà đầu tư tiềm năng, tích cực quảng cáo và dùng mọi cách (đôi lúc dùng đến cả những người nổi tiếng để quảng bá) để thuyết phục khách hàng đầu tư. Do thị trường bị thổi phồng, giá sẽ được đẩy lên cao nhưng cuối cùng sẽ sụp đổ và các môi giới luôn biết cách tháo chạy đúng lúc. Hậu quả là chỉ có những nhà đầu tư cả tin bị thua lỗ nặng nề.

Belfort cho biết hiện nay, ai cũng muốn tham gia vào các ICO. Ông khẳng định ý tưởng tiền số không có vấn đề gì; tuy nhiên, chính những người tham gia vào thị trường sẽ khiến ý tưởng này đi chệch hướng.

Kể từ sau khi được trả tự do vào năm 2005, Belfort gây dựng lại sự nghiệp với tư cách một tác giả và một diễn giả truyền cảm hứng. Ông sẽ có mặt tại New York trong tuần này tại một sự kiện do Diễn đàn Toàn cầu Synergy tổ chức. Tại đây, ông sẽ quảng bá cho cuốn sách mới của mình mang tên "Way of the Wolf".

Belfort cũng khuyên bạn bè và gia đình mình không tham gia các vụ ICO. Theo ông, đó là một phi vụ lừa đảo lớn chưa từng có, một vụ lừa đảo khổng lồ có thể huỷ hoại nhiều người. Ông khẳng định: “Điều này [ICO] tồi tệ hơn rất nhiều so với những gì tôi từng làm.”

>> Liên hệ Mua bán cổ phiếu - Tư vấn đầu tư - Ủy thác đầu tư 
 

Theo Trí thức trẻ/FT
Share:

Đại gia Hàn Quốc đem 1.400 tỷ đồng thâu tóm tòa tháp TNR Tower của bà Nguyệt Hường

Để chuẩn bị số tiền khoảng 70 tỷ won (hơn 1.400 tỷ đồng) cho giá trị thương vụ mua lại tòa nhà TNR Tower, KORAMCO phải huy động từ nguồn quỹ trong nước, và từ Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Hanwha. 

Theo tờ Koreaninvestors, công ty quản lý tài sản KORAMCO của Hàn Quốc đang trong giai đoan đàm phán cuối cùng để mua lại tòa nhà văn phòng 25 tầng, TNR Nguyễn Công Trứ, tại trung tâm TP. HCM. Ước tính giá trị thương vụ mua lại TNR Tower vào khoảng 70 tỷ won.

Được biết, Tòa tháp TNR Tower là một trong 6 công trình lớn đang hoạt động của TNR Holdings. Tòa tháp có diện tích 19.000 m2, cao 25 tầng (3 tầng hầm), được mệnh danh là tòa nhà có view sông đẹp nhất quận 1. Để mua tòa nhà này, KORAMCO đã huy đồng nguồn quỹ từ Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Hanwha tại Hàn Quốc.

Korea Investors nhận xét các nhà đầu tư Hàn Quốc đã rất dè dặt khi đầu tư vào bất động sản thực ở Việt Nam bởi chi phí quá cao, bất trắc về cơ sở pháp lý và hệ thống kiểm soát phức tạp. Tuy nhiên, nhu cầu về bất động sản ở Việt Nam ngày càng tăng do sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và giá rẻ hơn so với thị trường Trung Quốc và Hong Kong đang thu hút nhiều nhà đầu tư bất động sản quốc tế nhập cuộc.

Nếu thương vụ này nếu hoàn tất sẽ có ý nghĩa lớn, bởi trước đó chưa có một nhà đầu tư Hàn Quốc nào toàn quyền sở hữu một tòa nhà ở Việt Nam, một nhà đầu tư bất động sản nói.

Còn nhớ, hồi năm 2016, thị trường Việt Nam từng lan truyền thông tin TNR Holdings nhờ một đơn vị trong lĩnh vực dịch vụ bất động sản nghiên cứu, tìm kiếm nhà đầu tư trong và ngoài nước cho các tài sản và dự án của Công ty. Đến nay, việc tòa tháp TNR Tower chuẩn bị được TNR Holdings chuyển nhượng đang dần khẳng định những thông tin trên là sự thật. Vì vậy, rất có khả năng trong thời gian tới, TNR Holdings sẽ còn tiếp tục bán thêm các dự án, tòa nhà khác.

Hiện nay, các tài sản và dự án của TNR Holdings bao gồm 6 tòa nhà lớn đang hoạt động, các tòa nhà văn phòng hạng A, Resort và 9 dự án lớn. Các tài sản và dự án này được giới thiệu là nằm tại vị trí đắc địa tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.

Được biết, TNR Holdings cũng là đơn vị quản lý và phát triển Dự án Goldmark City, có quy mô 5.000 căn hộ cao cấp, do Công ty địa ốc Việt Hân làm chủ đầu tư. TNR Holdings cũng tham gia quản lý và phát triển là Dự án Goldsilk Complex, Quận Hà Đông. Mới đây, TNR Holdings đã trở thành đơn vị quản lý và phát triển Dự án Gold View tại Quận 4, TP. Hồ Chí Minh.

>> Liên hệ Mua bán cổ phiếu - Tư vấn đầu tư - Ủy thác đầu tư
 

(Tri Thức Trẻ/Koreaninvestors ) 

Share:

Thứ Hai, 23 tháng 10, 2017

Làm ốc vít cho điện thoại, cổ phiếu công ty này tăng tới 400% chỉ trong 10 tháng qua

Năm 2017, cổ phiếu công nghệ toàn cầu chứng kiến sự bứt phá mạnh mẽ nhưng sự tăng trưởng đó chẳng là gì nếu so với một công ty chuyên cung cấp ốc vít và linh kiện phụ trợ cho các nhà sản xuất thiết bị công nghệ. 


Techfast Holdings Bhd. là một nhà cung ứng nhỏ của Malaysia, chuyên chế tạo từ bu lông, ốc vít tới các vật liệu điốt phát sáng (làm đèn LED). Tuy nhiên, công ty ít tên tuổi này lại đang là hiện tượng bởi giá trị cổ phiếu tăng tới 400% chỉ trong 10 tháng đầu năm nay, biến nó trở thành một trong những công ty tăng trưởng tốt nhất trên thị trường chứng khoán.

Đây là một trong số ít công ty của Malaysia tham gia vào chuỗi cung ứng công nghệ. Dù thường nằm ngoài phạm vi quan tâm của các nhà phân tích nhưng rõ ràng những công ty như Techfast có thể mang lại lợi nhuận lớn cho các nhà đầu tư. Chỉ trong năm nay, cổ phiếu Techfast đã tăng tới 400%, cao hơn nhiều so với mức gia tăng trung bình 79% của các công ty công nghệ Malaysia.

Jason Yap Yoon Sing, nhà sáng lập kiêm giám đốc điều hành của Techfast, cho biết, công ty này đang làm các tấm cao su để làm khuôn cho các nhà máy sản xuất chip ở Trung Quốc đại lục và đảo Đài Loan. Nhà quản lý 61 tuổi cho biết, các công ty thường sẵn sàng chi trả nhiều tiền hơn cho các bộ phận gia công chất lượng, chẳng hạn như ốc vít được dùng để cố định vỏ bọc của các thiết bị nhạy cảm.

Dù có mức tăng trưởng kỷ lục nhưng ông Sing nhấn mạnh tiềm năng phát triển của Techfast là vô cùng to lớn. Lấy ví dụ về các tấm cao su được sử dụng làm khuôn chế tạo chip, ông Sing cho rằng nhu cầu của thị trường có thể lên tới 180 tấn/tháng nhưng hiện tại công ty mới chỉ làm ra được khoảng 12 tấn. Công nghệ chế tạo đơn giản nhưng quá trình sản xuất này rất khó để mở rộng.

Techfast được thành lập năm 1999 và lên sàn năm 2005. Hiện tại, công ty sản xuất epoxy dùng để chế tạo đèn LED, các khuôn cao su phục vụ công nghệ bán dẫn hay bán ốc vít, từ loại dùng cho ô tô tới sản xuất ti vi, điện thoại thông minh. Lợi nhuận của Techfast tăng 73% trong 6 tháng đầu năm qua so với cùng kỳ năm ngoái.

Bên cạnh thị trường Malaysia, Techfast đang tìm kiếm các đối tác nước ngoài trong những lĩnh vực mà nó có thế mạnh.

>> Liên hệ Mua bán cổ phiếu - Tư vấn đầu tư - Ủy thác đầu tư

Theo Trí thức trẻ/Bloomberg
Share:

Thứ Bảy, 14 tháng 10, 2017

Thoái vốn khỏi bất động sản, một quỹ thuộc VinaCapital đầu tư mới 220 triệu USD vào TTCK Việt Nam trong năm tài chính 2016-2017

Tính tới 30/6/2017, tỷ trọng cổ phiếu niêm yết trong danh mục VOF lên tới 58,2%, trong đó, các cổ phiếu tăng trưởng tốt nhất của VOF có thể kể tới như VNM (tăng 39%), HPG (tăng 53%). Các khoản đầu tư mới của VOF trong năm tài chính vừa qua bao gồm VJC, CTD, HUT, VGC. 

Theo tin từ VinaCapital, giá trị tài sản ròng (NAV) quỹ VinaCapital Vietnam Opportunity Fund (VOF) tại ngày 30/9/2017 đạt 968 triệu USD, tăng nhẹ 16 triệu USD so với 3 tháng trước đó. NAV Chứng chỉ quỹ tương ứng 4,87 USD, tăng 26% so với thời điểm đầu năm.

Trong năm tài chính 2016 – 2017, VOF đã thu về 100 triệu USD từ việc thoái vốn các công ty chưa và đã niêm yết cùng các tài sản ở nước ngoài. Từ đầu năm tài chính 2017 – 2018 đến nay, quỹ tiếp tục thu về 4,5 triệu USD.

Bên cạnh đó, VOF cũng thu về 126 triệu USD từ việc thoái vốn khỏi các dự án bất động sản. Tính đến 30/9/2017, còn 8 khoản đầu tư bất động sản trong danh mục, chiếm dưới 5% NAV.

Trong năm qua, VOF đã đầu tư mới 220 triệu USD vào các công ty tư nhân, các công ty niêm yết, các thương vụ đầu tư thương lượng và trái phiếu.
 Danh mục đầu tư của VOF

Tính tới 30/6/2017, tỷ trọng cổ phiếu niêm yết trong danh mục VOF lên tới 58,2%, trong đó, các cổ phiếu tăng trưởng tốt nhất của VOF có thể kể tới như VNM (tăng 39%), HPG (tăng 53%). Các khoản đầu tư mới của VOF trong năm tài chính vừa qua bao gồm VJC, CTD, HUT, VGC.

Cổ phần chưa niêm yết (bao gồm cổ phiếu OTC, cổ phiếu Upcom) chiếm 11,8% danh mục VOF. Trong đó, ACV là cái tên đáng chú ý nhất với mức tăng trưởng 45%.

Các khoản đầu tư cổ phần tư nhân chỉ chiếm 6,5% danh mục, bao gồm Novaland và khoản đầu tư mới FPT Retail.

Lĩnh vực bất động sản chỉ còn chiếm 6% danh mục VOF, giảm so với mức 17,4% trong năm trước. Trong kỳ, VOF không có khoản đầu tư nào mới và đã thoái vốn khỏi 4 dự án.

VOF cho biết quỹ sẽ tiếp tục hướng đến các khoản đầu tư mớ vào các thương vụ đầu tư thương lượng và doanh nghiệp cổ phần hóa. Ngoài ra sẽ hướng đến các lĩnh vực tiêu dùng và tài chính, chọn lọc các công ty có triển vọng tăng trưởng cao trong 3-5 năm tới. Dự kiến đạt mục tiêu IRR 15-20% cho danh mục thị trường vốn và cổ phần hóa, và 20-25% cho các khoản đầu tư tư nhân, đầu tư thương lượng.

Một quỹ khác của VinaCapital là VCG Parters Vietnam Fund (VVF) cũng đạt được những thành tích khá tốt với mức tăng trưởng 37% kể từ khi thành lập vào 14/7/2015 tới nay, cao hơn mức tăng của VnIndex (tính theo USD) 16,2%, cao hơn mức tăng trưởng trung bình của các quỹ UCITS khác đầu tư vào Việt Nam 9,6% trong cùng kỳ.

Tính tới cuối tháng 9/2017, NAV quỹ đạt 77 triệu USD, trong đó có 9 cổ phiếu trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, dịch tiện ích với tỷ trọng 26,6%; 7 cổ phiếu hàng tiêu dùng, bán lẻ chiếm 21% và 5 cổ phiếu xây dựng, vật liệu xây dựng chiếm tỷ trọng 19,3%.

>> Liên hệ Mua bán cổ phiếu - Tư vấn đầu tư - Ủy thác đầu tư


Tri Thức Trẻ
Share:

Đã đầu tư, hãy đầu tư như tỷ phú

Những người giàu nhất thế giới có "tài" biến tiền thành rất nhiều tiền. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn suy nghĩ giống như người giàu, và hy vọng là kiếm tiền như tỷ phú.

Một số người giàu nhất thế giới gặp vận may khi đầu tư vào thị trường chứng khoán. Trong số đó, vài người nổi tiếng như nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett còn chia sẻ bí kíp cho những người khác. Dưới đây là cách một số tỷ phú đầu tư.

1. Warren Buffett thích cổ phiếu giá trị



Một trong những triết lý đầu tư của quỹ Berkshire Hathaway do Buffett sáng lập là đầu tư giá trị. Phương pháp này đòi hỏi phải xác định các cổ phiếu giá rẻ theo một số liệu cơ bản như tỷ suất PER (giá/lợi nhuận) và thu lợi khi thị trường nhận ra giá trị thật của tài sản.

Một trong những "hàng" ruột của Buffett là cổ phiếu Apple. Vị tỷ phú chưa bao giờ bán cổ phiếu của hãng công nghệ này, và tháng trước ông còn tuyên bố Apple sẽ trở thành công ty nghìn tỷ USD đầu tiên.

2. Ray Dalio thích rủi ro

Ray Dalio là nhà sáng lập tỷ phú của Bridgewater Associates, quỹ đầu cơ lớn nhất thế giới. Chính Bridgewater đã phát minh ra chiến lược cân bằng rủi ro nổi tiếng thế giới về quản lý danh mục đầu tư.

Chiến lược này cố gắng giảm thiểu rủi ro bằng cách cân bằng danh mục đầu tư giữa cổ phiếu, trái phiếu kho bạc dài hạn, trái phiếu kho bạc trung hạn, vàng và các loại hàng hóa khác. Dialo cũng giúp phát triển một bí kíp phân bổ nguồn lực cho nhà đầu tư gọi là All Weather (Mọi loại thời tiết).

Công thức là: 30% cổ phiếu, 40% trái phiếu kho bạc dài hạn, 15% trái phiếu kho bạc trung hạn, 7,5% vàng và 7,5% hàng hóa khác.

3. Andrew Left cá cược với công ty

Tỷ phú đầu tư kiêm nhà hoạt động xã hội Andrew Left của Citron Research nổi tiếng vì kiếm được gia tài hàng tỷ USD khi thị trường đi xuống. Phương pháp của ông gây khá nhiều tranh cãi: bán khống những cổ phiếu ông nghĩ có liên quan đến gian lận hoặc các hoạt động kinh doanh mờ ám và sau đó Citron sẽ công bố báo cáo phơi bày những vụ việc này.

Theo phân tích của tờ Wall Street Journal về 111 báo cáo bán khống của công ty này trong giai đoạn 2001 - 2014, giá cổ phiếu trung bình giảm 42% trong năm sau khi báo cáo được đưa ra. Trong số 111 cổ phiếu, chỉ 21 tăng lại trong khi 90 giảm sau một năm.

>> Bí quyết khiến 'tiền đẻ ra tiền' của 4 huyền thoại kinh tế

 
Theo NDH
Share:

Thứ Năm, 12 tháng 10, 2017

Thị trường chứng khoán Australia đang “không hoạt động”

Trong một thập kỷ qua, nền kinh tế Australia đã tăng trưởng nhanh hơn so với tốc độ của các nền kinh tế phát triển trên toàn cầu. Đây được xem là quốc gia duy nhất đứng bên ngoài cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2007. Điều này đồng nghĩa với việc thị trường chứng khoán Australia cũng đã phát triển tích cực? Câu trả lời là không.


“Không hoạt động”

Thực tế, thị trường chứng khoán Australia hiện tại đã bị thu hẹp hơn so với thời điểm khủng hoảng kinh tế. Trong giai đoạn từ năm 2007 tới nay, vốn hóa thị trường chứng khoán Mỹ đã tăng trưởng lên hơn 9.000 tỷ USD, trong khi vốn hóa thị trường chứng khoán Australia hiện đang thấp hơn so với cuối năm 2007 và bị qua mặt bởi Hàn Quốc và Ấn Độ.

 Không chỉ mất đi mối liên hệ với nền kinh tế, thị trường chứng khoán nước này còn đi ngược lại đà tăng trưởng của các quỹ lương hưu, vốn đang lựa chọn đầu tư ra nước ngoài, thay vì chọn các tài sản nội địa. Nguyên nhân đằng sau sự thu hẹp này, theo các chuyên gia kinh tế, là cấu trúc nền kinh tế tập trung quá lớn vào lĩnh vực bán lẻ và tài chính. Cùng với đó, khẩu vị ưa chuộng niêm yết tại thị trường quốc tế của doanh nghiệp, thay vì lên sàn tại quê nhà.

“Chức năng xã hội và kinh tế của thị trường chứng khoán là cung cấp nguồn vốn cho nền kinh tế Australia. Và với tình hình hiện tại, thị trường chứng khoán nước này đang không hoạt động”, Hasan Tevfik, chiến lược gia tại Credit Suisse Group AG cho biết.

Các quan chức thuộc Bộ Tài chính Australia, cũng như tại ASX Ltd, công ty điều hành sàn giao dịch, đã không trả lời yêu cầu bình luận về tình trạng trì trệ của thị trường chứng khoán nước này.

Ra nước ngoài

Một trong những vấn đề đáng lo ngại của Australia là các doanh nghiệp lớn, hoặc công ty khởi nghiệp đầy tiềm năng đều không lựa chọn quê nhà là nơi niêm yết. Mới đây nhất, Atlassian Corp, ngôi sao mới nổi tại lĩnh vực công nghệ của Australia, đã quyết định lựa chọn sàn Nasdaq (Mỹ) để tiến hành niêm yết.

Không riêng doanh nghiệp, các quỹ đầu tư, quỹ lương hưu cũng lựa chọn đổ vốn vào thị trường nước ngoài. John Pearce, Giám đốc đầu tư tại UniSuper Management Pty, một trong những quỹ lương hưu lớn nhất Australia, hiện đang quản lý hơn 60 tỷ AUD cho biết: “Nếu chúng tôi kiếm được vài tỷ USD trong ngày mai, tất cả đều nhờ vào thị trường nước ngoài. Thực tế, đầu tư ra bên ngoài là câu trả lời duy nhất, bởi chúng tôi đã đạt tới những giới hạn tại Australia”.

Theo các chuyên gia kinh tế, thị trường chứng khoán Australia ngày nay không có gì khác biệt so với cách đây 10 năm, với các công ty khai thác tài nguyên và thể chế tài chính chiếm tới 54% chỉ số chứng khoán chính, gồm 200 thành viên, và không một lĩnh vực nào khác tiến tới thị phần 10%.
Chưa kể, một điểm khác biệt rõ ràng đối với thị trường chứng khoán Australia so với Mỹ, nơi có thị trường năng động, sầm uất bậc nhất, chính là thiếu đi những cái tên mới mẻ, thiếu nguồn động lực mới. 
 
Cụ thể, top 5 doanh nghiệp chiếm trọng số lớn nhất chỉ số chứng khoán chính thị trường Australia năm 2007 và 2017 không có sự thay đổi nào, trong khi tại Mỹ, chỉ duy nhất 1 doanh nghiệp trụ lại trong top 5 năm 2017 so với năm 2007. Sự xuất hiện của những doanh nghiệp mới được xem là lực hấp dẫn tích cực bậc nhất đối với thu hút nguồn vốn trên thị trường chứng khoán.
 
Bên cạnh đó, dù là quốc gia nằm tại ngưỡng của của khu vực có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới, mối liên kết giữa Australia và châu Á đang khá hạn chế. Mới đây nhất, báo cáo của Chris Bowen, Bộ trưởng Ngân khố của đảng đối lập cho thấy, 2/3 thành viên hội đồng quản trị của các công ty thuộc chỉ số S&P/ASX 200 chưa từng có kinh nghiệm tổ chức hoạt động tại châu Á, theo khảo sát gần đây của PricewaterhouseCoopers.

Không riêng thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu của Australia cũng cho thấy những hạn chế. Bất chấp những nỗ lực khuyến khích của chính phủ, thị trường trái phiếu Australia vẫn vắng bóng trái phiếu từ các công ty không thuộc lĩnh vực tài chính. Cụ thể, trái phiếu của các nhà băng thống trị thị trường, trong khi tại Canada, quốc gia thường được so sánh với Australia vì quy mô dân số tương đương, đất đai rộng lớn và nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu tài nguyên, trái phiếu của các công ty không thuộc lĩnh vực tài chính có sự hiện diện lớn hơn nhiều.

ĐTCK
Share:

10 cổ phiếu vốn hóa lớn nhất của VN-Index giúp nhà đầu tư kiếm “đậm”

Các cổ phiếu tốt, với kết quả kinh doanh khả quan, cùng với thông tin tài chính và quản trị minh bạch luôn là sự lựa chọn hàng đầu của các nhà đầu tư coi trọng sự an toàn. Tuy nhiên, các cổ phiếu bluechip  lớn nhất Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (theo như dữ liệu từ Hose) cũng có mức sinh lời đáng kể trong thời gian đã qua của năm 2017.


Thị trường chứng khoán Việt Nam đã bùng nổ trong năm 2017, khi chỉ số VN-Index tăng 17,7% kể từ mức hơn 664 điểm lên hơn 807 điểm thời điểm kết thúc ngày 6.10.2017.

Trong đó, 10 cổ phiếu vốn hóa lớn nhất Việt Nam (chiếm khoảng 55% tỷ trọng của chỉ số VN-Index) tăng trưởng cũng rất ấn tượng. Mức tăng trưởng của các cổ phiếu này là từ 12,5% cho tới cao nhất là 45%. Chi tiết được thể hiện trong bảng dưới đây:
Như bảng trên cho thấy, 8/10 cổ phiếu có mức tăng trưởng vượt trội (outperform) so với mức tăng trưởng của chỉ số VnIndex (17,7%).  
                                            
Đây là một điều rất đáng chú ý khi mà trong năm 2016, VN-Index cũng có mức tăng trưởng khoảng 15% từ mức 579 điểm lên 664,87. Trong số 10 cổ phiếu vốn hóa lớn nhất thị trường kể trên, 3 cổ phiếu (CTG, BID, MSN) có mức giảm khá mạnh từ 16 tới 27%.

Cổ phiếu Vinamilk luôn là một sự lựa chọn đạt hiệu quả cao và ổn định cho các nhà đầu tư. Trong 2 năm vừa qua, cổ phiếu này đều tăng trưởng ổn định và đều đặn 22%, Chưa kể là trong năm 2015, cổ phiếu này tăng trưởng khoảng 70%. Một trong những nhà đầu tư nổi tiếng nhất vào Vinamilk là FRASER&Neave (F&N) đã công bố khoản thu nhập bất thường lên đến 1,2 tỷ  đô la Singapore từ việc nâng tỷ lệ sở hữu cổ phần tại VNM.
Biểu đồ cổ phiếu Vinamilk 3 năm qua. Nguồn: VnDirect

Thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2017 đón nhận hàng loạt thông tin tích cực: như cung tín dụng mở rộng, dòng vốn FDI vào nền kinh tế tiếp tục đạt mức kỉ lục, tỷ giá ổn định, rồi nợ xấu ngân hàng đang được tích cực xử lý, giá dầu cũng hồi phục khá. Trong tháng 9 vừa qua, hãng tin Bloomberg cũng đưa tin Việt Nam là nước duy nhất mà dòng vốn ngoại vào thị trường chứng khoán là dương trong tất cả 8 tháng đầu năm 2017.

Sự tăng trưởng của 10 cổ phiếu trên tiêu biểu cho triết lý đầu tư của huyền thoại Warren Buffett: chỉ có những cổ phiếu tốt, có lợi thế cạnh tranh đặc biệt, và lợi nhuận tăng trưởng bền vững mới tăng giá và sẽ lập các mức cao mới.

>> Liên hệ Mua bán cổ phiếu - Tư vấn đầu tư - Ủy thác đầu tư   
 

NCĐT
Share:

Nhà đầu tư Việt đã hiểu đúng về cổ tức?



Ben Graham và Phil Fisher là hai trong số những người có ảnh hưởng lớn đến triết lý đầu tư của Warren Buffett. Tuy nhiên, hai nhà đầu tư này lại có nhiều quan điểm khác nhau, trong đó bao gồm vấn đề cổ tức.


 
Benjamin Graham (1894-1976). Ảnh: Wikipedia

Không phải nhà đầu tư Việt nào cũng có cái nhìn đúng về cổ tức – một khái niệm quan trọng trong đầu tư cổ phiếu niêm yết. Bài viết này nhằm giúp nhà đầu tư Việt thấy được quyền lợi của mình và đánh giá đúng khái niệm này khi ra quyết định đầu tư.

Tại sao cổ tức lại quan trọng với nhà đầu tư?

Đa phần các nhà đầu tư cá nhân không phải là cổ đông chiến lược của công ty mà mình đầu tư vào, và do đó không có được nhiều tiếng nói có trọng lượng trong chiến lược kinh doanh và phát triển của công ty. Vì vậy, việc được nhận cổ tức không chỉ mang lại ý nghĩa về mặt lợi nhuận tài chính đơn thuần, mà còn là một sự cam kết của công ty đại chúng đối với quyền lợi của các cổ đông nhỏ, vốn cũng là những chủ sở hữu của công ty.

Cổ tức bằng tiền mặt hay bằng cổ phiếu tốt hơn?

“Mục đích căn bản của một doanh nghiệp là trả cổ tức cho chủ sở hữu của nó”.
Benjamin Graham và David L. Dodd, Security Analysis (1934).


Về nguyên tắc, cổ tức bằng tiền mặt mang lại lợi ích trước mắt cho cổ đông về mặt lợi nhuận tài chính, trong khi cổ tức bằng cổ phiếu mang lại lợi ích về thanh khoản nhưng thường mất thời gian để hoàn thành. Đa số các nhà đầu tư có kinh nghiệm thường muốn nhận cổ tức bằng tiền mặt (sau thuế). Mặc dù vậy, cổ tức tiền mặt làm giảm vốn hóa công ty (do một phần lợi ích kinh tế đã được chuyển giao cho cổ đông) trong khi cổ tức bằng cổ phiếu không thay đổi vốn hóa công ty.

Có phải cổ tức càng cao thì càng tốt?

Cổ tức cao hay không, không quan trọng bằng một chính sách cổ tức nhất quán. Do cổ tức thường có liên hệ mật thiết với lợi nhuận công ty, nên một chính sách cổ tức nhất quán thường đi kèm với một tỷ lệ trả cổ tức (payout ratio) nhất định, được tính toán bằng lượng cổ tức phải trả chia cho lợi nhuận sau thuế của công ty.

Vinamilk là một trong số ít các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam tuân thủ thông lệ quốc tế và công khai tỷ lệ trả cổ tức bằng tiền mặt ở mức tối thiểu 50% lợi nhuận sau thuế, thông qua các Nghị quyết Đại hội cổ đông thường niên. Mặt khác, cũng có những doanh nghiệp sử dụng chính sách cổ tức cố định, ví dụ như StarHub (một trong ba nhà mạng lớn ở Singapore), với mục đích giúp nhà đầu tư dễ dàng yên tâm với số tiền nhận được hằng năm, kèm theo tiềm năng tăng giá của cổ phiếu.

Việc doanh nghiệp trả cổ tức cao bất thường ở một thời điểm nhất định không phải lúc nào cũng nhận được sự ủng hộ của thị trường, do (1) nhà đầu tư không chắc chắn về sự phát triển bền vững trong tương lai của công ty và (2) giá cổ phiếu sẽ bị điều chỉnh giảm ngay sau khi cổ tức bằng tiền mặt được trả.
Phil. A. Fisher (1907-2004). Ảnh: Wikipedia

Ngược lại, có nhiều doanh nghiệp đang ở trong giai đoạn tăng trưởng cao và mong muốn giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư, mở rộng kinh doanh sản xuất. Những doanh nghiệp này có thể ít hoặc không trả cổ tức tiền mặt trong nhiều năm.

Ví dụ, trước khi Microsoft bắt đầu trả cổ tức tiền mặt lần đầu tiên vào năm 2003, giá cổ phiếu đã tăng bình quân khoảng 30%/năm kể từ khi doanh nghiệp này niêm yết vào năm 1986.

Tỷ lệ cổ tức (theo mệnh giá) ở Việt Nam nên được hiểu thế nào?

Theo thông lệ thị trường Việt Nam, cổ tức thường được hiển thị dưới dạng phần trăm mệnh giá. Mệnh giá hiện được cố định ở mức 10.000 đồng/cổ phiếu và nhằm giúp nhà đầu tư dễ dàng tính toán số lượng cổ tức thực nhận được hằng năm. Tuy nhiên, tỷ lệ phần trăm này không có nhiều ý nghĩa trong việc đánh giá mức độ hấp dẫn của cổ tức.

“Điều quan trọng là chính sách cổ tức không nên được đề cao tới mức làm hạn chế khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp”.
Philip A. Fisher, Common Stocks and Uncommon Profits (1958).
Các công ty đại chúng ở Việt Nam không phải lúc nào cũng điều chỉnh vốn điều lệ kịp thời để phản ánh tình hình kinh doanh và tăng trưởng vốn chủ sở hữu. Do vậy, có rất nhiều trường hợp giá cổ phiếu đã tăng cao, phù hợp với kết quả kinh doanh, nhưng vốn điều lệ chưa kịp tăng tương ứng, dẫn đến tỷ lệ phần trăm cổ tức trên mệnh giá là một con số có giá trị bề ngoài cao nhưng lại khá thấp khi so với thị giá cổ phiếu mà nhà đầu tư cần bỏ tiền ra mua.
Theo thông lệ quốc tế, nhà đầu tư thường sử dụng tỷ suất cổ tức (dividend yield), được tính bằng lượng cổ tức được nhận cho mỗi cổ phiếu chia cho thị giá cổ phiếu để tính toán mức độ hấp dẫn của cổ phiếu này.

Nhà đầu tư cần làm gì?

- Khi doanh nghiệp công bố tỷ lệ chi trả cổ tức được hiển thị dưới dạng phần trăm mệnh giá, nhà đầu tư cần quy đổi ra giá trị tuyệt đối (ví dụ tỷ lệ 50% được hiểu là 5.000 đồng/cổ phiếu) rồi tính tỷ suất cổ tức dựa trên thị giá hiện tại.

- Khi doanh nghiệp công bố kế hoạch chi trả (hoặc không chi trả) cổ tức, nhà đầu tư nên tìm hiểu kế hoạch này có phù hợp với tình hình kinh doanh và triển vọng của doanh nghiệp hay không.
- Nhà đầu tư có thể tham khảo các cuốn sách của Benjamin Graham (đầu tư giá trị) và Philip Fisher (đầu tư tăng trưởng), vốn có những góc nhìn rất khác nhau về cổ tức, để hiểu vì sao triết lý đầu tư của Warren Buffett lại bị ảnh hưởng bởi cả hai nhà đầu tư huyền thoại này.
Source: http://www.thesaigontimes.vn/165403/Nha-dau-tu-Viet-da-hieu-dung-ve-co-tuc.html
Share:

Vén bức màn định giá start-up công nghệ và fintech

Làn sóng start-up công nghệ toàn cầu đang nổi lên với những giá trị doanh nghiệp cao ngất. Nhà đầu tư nói chung và giới đầu tư mạo hiểm nói riêng cũng ngày một sáng tạo trong việc định giá các start-up công nghệ và công ty Fintech.

Nguồn ảnh: wikipedia 

Những start-up công nghệ với giá cao ngất

Khi Facebook trả 19 tỉ đô la Mỹ để mua lại dịch vụ tin nhắn WhatsApp hồi năm 2014, cả thị trường bất ngờ. Không ít người tự hỏi, tại sao Facebook có thể trả mức giá cao đến vậy cho một công ty mới 5 năm tuổi và có vỏn vẹn 50 nhân viên?

Năm 2016, Uber thua lỗ gần 3 tỉ đô la Mỹ, nhưng vẫn được định giá 68 tỉ đô la Mỹ. Trước đó, Uber gần như không tạo ra lợi nhuận gì. Sau khi được định giá 68 tỉ đô la Mỹ, Uber cũng không có vẻ gì sẽ có lời trong tương lai gần. Phải chăng hơn 82 nhà đầu tư tên tuổi đã thừa tiền để bỏ vào Uber mà không màng tới lợi nhuận?

Uber không phải là công ty duy nhất được định giá tỉ đô mặc dù không đem về bao nhiêu lợi nhuận. Câu lạc bộ kỳ lân toàn cầu (Global Unicorn Club) là những start-up công nghệ chưa IPO mà có mức định giá trên 1 tỉ đô la Mỹ, bao gồm: Uber (68 tỉ đô la Mỹ), Didi Chuxing (50 tỉ đô la Mỹ), Xiaomi (46 tỉ đô la Mỹ), Airbnb (29,3 tỉ đô la Mỹ),... Trong nhóm này cũng có những công ty Fintech hàng đầu như công ty cho vay trực tiếp (peer-to-peer lending) (1) Lufax (18,5 tỉ đô la Mỹ), công ty thanh toán trực tuyến Stripe (9,2 tỉ đô la Mỹ), công ty bảo hiểm trực tuyến Zhong An (8 tỉ đô la Mỹ). Những con số định giá rất cao này được xác định như thế nào? Giới đầu tư mạo hiểm có dùng các phương pháp định giá như chúng ta vẫn hay dùng cho các công ty niêm yết như chiết khấu dòng tiền (DCF), phương pháp bội số, như bội số giá trên doanh thu (price to sales - P/S), bội số giá trên lợi nhuận ròng (price to earnings - P/E), bội số giá trên giá trị sổ sách (price to book value - P/B) hay bội số giá trị doanh nghiệp trên lợi nhuận trước thuế, khấu hao và lãi vay (enterprise value to EBITDA - EV/EBITDA) hay không?

Câu trả lời là có và không.

Định giá truyền thống không còn phù hợp

Về lý thuyết, một số nhà đầu tư đã cố gắng áp dụng khoa học để định giá start-up, như (1) phương pháp đầu tư mạo hiểm (VC methods) định giá dựa trên lợi nhuận kỳ vọng tại thời điểm thoái vốn (ROI); (2) phương pháp Berkus định giá dựa trên giá trị bằng tiền của 5 yếu tố thành công chính của start-up (ý tưởng, công nghệ, chất lượng nhóm điều hành, quan hệ chiến lược, khả năng triển khai sản phẩm & bán hàng); (3) phương pháp scorecard tham chiếu giá trị định giá trung bình của các thương vụ tương tự trong khu vực và trong cùng ngành sau đó điều chỉnh tăng/giảm dựa trên 7 tiêu chí trọng yếu để xác định giá trị công ty cần định giá; và (4) phương pháp tổng rủi ro so sánh 12 đặc tính của công ty khởi nghiệp với kỳ vọng.

Tuy nhiên, trên thực tế những phương pháp nói trên ít được sử dụng để định giá công ty khởi nghiệp. Còn trong các phương pháp định giá công ty niêm yết truyền thống thì phương pháp chiết khấu dòng tiền (DCF) hầu như không được sử dụng vì các mô hình tài chính phức tạp của DCF thường phụ thuộc quá nhiều vào các giả định có phần mơ hồ khi công ty mới đang dần được hình thành. Phương pháp bội số, do đó, được sử dụng phổ biến hơn.

Các công ty start-up công nghệ thường không có lời trong nhiều năm hoạt động đầu tiên, vì chi phí bỏ ra để marketing, để thu hút và tạo lập người dùng (user acquisition) lớn hơn rất nhiều so với doanh thu và lợi nhuận thu về. Vì vậy khó có thể định giá những công ty này bằng phương pháp P/E hay EV/EBITDA. Sổ sách của các công ty start-up cũng thường rất sơ khai, và chưa phản ánh đầy đủ giá trị tài sản của công ty start-up (thường là tài sản vô hình tự tạo ra và không được ghi nhận theo các quy định kế toán như cơ sở dữ liệu khách hàng, quyền sở hữu trí tuệ, bằng phát minh sáng chế, ...). Do đó, dùng phương pháp P/B để định giá là không chính xác.

Để định giá các công ty start-up công nghệ, giới đầu tư mạo hiểm hay dùng phương pháp bội số doanh thu P/S (hoặc P/E, nếu start-up nào đó có lời ngay những năm đầu tiên từ lúc gọi vốn). Thông lệ phổ biến trong định giá start-up công nghệ là "3 lần doanh thu hoặc gấp 8 lần lợi nhuận của năm kế tiếp". Ở thời điểm này, nhà đầu tư chấp nhận việc doanh nghiệp chưa tạo ra lợi nhuận, nên định giá trên bội số doanh thu. Về lâu dài bất cứ nhà đầu tư nào cũng đòi hỏi doanh nghiệp mang lại lợi nhuận và dòng tiền ổn định.

Sáng tạo trong định giá start-up công nghệ

Tuy nhiên, định giá bằng phương pháp P/S không phải lúc nào cũng phản ánh đúng giá trị doanh nghiệp. Như Uber và Grab đang trợ giá rất nhiều cho người dùng, hay nói cách khác, họ đang hy sinh doanh thu để thu hút và tạo lập người dùng. Các start-up công nghệ khác cũng có chiến lược tương tự.

Do đó, nếu chỉ định giá bằng bội số doanh thu thôi sẽ không chính xác. Giới đầu tư mạo hiểm bắt đầu sáng tạo ra các thông số định giá mới mà họ cho rằng phản ánh đúng hơn giá trị của các mô hình kinh doanh đột phá này. Ví dụ như giá bằng bội số số lượng đơn hàng (price to orders) đối với các doanh nghiệp thương mại điện tử; bội số số lượng cuốc xe (price to rides) đối với các công ty taxi không sở hữu xe như Uber, Grab; bội số số lượng người dùng (price to users) đối với các start-up lôi kéo nhiều người dùng, và nhiều các thông số định giá sáng tạo khác.

Trở lại trường hợp Facebook mua lại WhatsApp với giá 19 tỉ đô la Mỹ. Sở dĩ WhatsApp được định giá cao như vậy là vì nó có lượng người dùng (user base) lớn (500 triệu người dùng tại thời điểm được mua) với tốc độ tăng trưởng người dùng cao (cứ một ngày tăng thêm 1 triệu người dùng) mà có thể đem lại nhiều giá trị khi cộng hưởng với các ứng dụng khác của Facebook. Ở thời điểm đó, 70% số lượng người dùng của WhatsApp tương tác hàng ngày (active user), trong khi tỷ lệ này ở Facebook chỉ là 62%. Hơn nữa, trong khi người dùng WhatsApp gửi cho nhau 500 triệu bức hình một ngày, con số này ở Facebook chỉ là 350 triệu bức hình một ngày. Như vậy, mức định giá 19  tỉ đô la Mỹ cho 500 triệu người dùng có nghĩa là Facebook đã mua WhatsApp với giá 38 đô la Mỹ một người dùng (price to users là 38 lần).

Ngoài ra, quay lại câu hỏi tại sao Uber được định giá cao dù vẫn đang thua lỗ triền miên. Lý do là Uber thuyết phục được các nhà đầu tư rằng đây là mô hình có tốc độ tăng trưởng cao trong tương lai. Thế rồi, các nhà đầu tư mạo hiểm tiếp tục rót vốn vào Uber, nuôi nó cho đến lúc nó chứng minh được điều nói trên.

Định giá Fintech: một chiếc áo không vừa cho tất cả

Năm 2014, khi hai Fintech cho vay trực tiếp là Lending Club và OnDeck Capital phát hành cổ phần lần đầu ra công chúng tại Mỹ, các công ty này được định giá tương tự như những công ty phần mềm dạng dịch vụ (Software as a Service – SaaS), sử dụng phương pháp định giá bội số doanh thu P/S. Tuy nhiên, các Fintech mảng cho vay lại ẩn chứa rủi ro mất vốn (nợ khó đòi) mà các công ty SaaS không hề có. Vì thế, nếu được định giá tương tự như SaaS, mà không tính đến các rủi ro, sẽ dẫn đến tình trạng định giá quá giá trị thực (over-valued).

Thêm nữa, các công ty Fintech mảng cho vay cũng thường được so sánh với các định chế tài chính truyền thống (ngân hàng, công ty bảo hiểm), vốn hay được định giá bởi phương pháp bội số giá trị sổ sách P/B. Tuy nhiên, sự so sánh này cũng khá khập khiễng bởi trong khi Fintech sử dụng công nghệ cao để đưa sản phẩm của mình tiếp cận với khách hàng thì các ngân hàng, tổ chức tài chính đến với khách hàng thông qua hệ thống chi nhánh truyền thống, mạng lưới máy ATM và lực lượng nhân viên hùng hậu. Giữa ngân hàng và công ty Fintech cũng có sự khác biệt về tỷ suất sinh lời trên tài sản (return on assets - ROA). Năm 2015, ngân hàng JPMorgan Chase có tài sản trị giá khoảng 2.300 tỉ đô la Mỹ và tạo ra khoảng 100 tỉ đô la Mỹ doanh thu một năm, trong khi đó công ty cho vay trực tuyến OnDeck Capital tạo ra doanh thu khoảng 200 triệu đô la Mỹ trên giá trị tài sản chỉ có 750 triệu đô la Mỹ. Vì thế, nếu áp chuẩn P/B chuyên dùng để đánh giá các định chế tài chính có ROA không quá 5% để định giá công ty Fintech có ROA có thể lên tới 40-50% là không hợp lý.

Để giải quyết vấn đề trên, giới đầu tư mạo hiểm đã tìm ra những thông số định giá chuyên biệt phản ánh đúng hơn động lực giá trị của các công ty Fintech, đặc biệt là Fintech mảng cho vay. Một số sử dụng phương pháp định giá bội số lợi nhuận gộp (price to gross profit – P/GP). Công ty Fintech và công ty SaaS giống nhau ở cấu trúc chi phí (bao gồm chi phí bán hàng, chi phí nghiên cứu phát triển, chi phí marketing trực tuyến,...), nhưng lại khác nhau ở chỗ SaaS không có chi phí mất vốn hay nợ khó đòi như công ty Fintech cho vay trực tuyến. Trong khi đó, lợi nhuận gộp cho biết công ty Fintech lời được bao nhiêu sau khi trừ đi chi phí vốn và tổn thất mất vốn.

Nói cách khác, phương pháp bội số lợi nhuận gộp P/GP loại bỏ sự khác biệt giữa SaaS và Fintech cho vay. Chỉ số P/GP này là 5 lần hay 10 lần còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố, như tốc độ tăng trưởng, rủi ro tiềm ẩn, tỷ suất lợi nhuận và các yếu tố khác, cũng giống như các chỉ số P/S và P/B có thể khác nhau tùy từng công ty SaaS hay ngân hàng. Một công ty Fintech chuyên cho vay ngắn hạn sẽ ít bị ảnh hưởng bởi môi trường tín dụng hơn các công ty Fintech cho vay dài hạn.

Cũng nên lưu ý rằng, P/GP cũng không phải là một cái áo may vừa cho tất cả các công ty Fintech. Mỗi loại hình công ty Fintech khác nhau (thanh toán trực tuyến, blockchain,…) đều có các động lực giá trị khác nhau, do đó có thể được định giá bằng các thông số khác nhau.
Nguồn ảnh: slideshare

Đằng sau các thông số định giá start-up công nghệ và Fintech
Dù các thông số định giá công ty start-up và Fintech được sáng tạo đến đâu, đằng sau chúng vẫn là những luận điểm đầu tư tương tự như các kênh đầu tư truyền thống. Yếu tố quan trọng đầu tiên của việc định giá các công ty start-up, mặc dù khó định lượng, là đánh giá khả năng hiện thực hóa kế hoạch kinh doanh của người sáng lập và điều hành. Người sáng lập và điều hành càng có nhiều kinh nghiệm khởi nghiệp (serial entrepreneurship), càng có kinh nghiệm trong lĩnh vực mà mình theo đuổi càng được đánh giá cao.

Đối với các công ty Fintech, người sáng lập sẽ được đánh giá cao nếu có kinh nghiệm trong lĩnh vực dịch vụ tài chính. “Một trong những trở ngại của việc đầu tư vào lĩnh vực Fintech là nếu các Fintech tiếp cận khách hàng là các công ty truyền thống, tốc độ làm việc với những tổ chức này thường rất chậm chạp. Sẽ là lợi thế rất lớn nếu nhóm Fintech là những người đã có sẵn các mối quan hệ trong ngành để có thể dễ dàng sắp xếp các cuộc gặp gỡ với những người ở cấp quyết định từ phía khách hàng”, Manu Gupta, Giám đốc quỹ đầu tư mạo hiểm Lakestar (2) cho biết.

Bên cạnh đó, ngành tài chính thường bị chi phối bởi nhiều quy định pháp luật; bởi vậy, các công ty Fintech cũng gặp nhiều khó khăn hơn các công ty start-up công nghệ khác. Người sáng lập và điều hành công ty Fintech cũng phải là người giải quyết được những khó khăn này.

Yếu tố quan trọng thứ hai trong việc định giá các công ty khởi nghiệp là việc xem xét tại thời điểm đầu tư công ty đó đã đạt được tốc độ tăng trưởng (traction) như thế nào đối với những chỉ tiêu hoạt động trọng yếu (KPI) tương ứng với lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp đó. Ví dụ, đối với các start-up dựa trên cơ sở người dùng như WhatsApp, Zalo, Facebook thì nhà đầu tư sẽ xem xét tốc độ phát triển người dùng (user growth) qua thời gian.

Còn như các công ty thương mại điện tử Lazada, Alibaba thì nhà đầu tư sẽ xem xét tốc độ tăng trưởng số lượng đơn hàng, giá trị đơn hàng (gross merchandise value),... Tùy thuộc vào loại hình công ty Fintech mà nhà đầu tư sẽ đánh giá các chỉ tiêu khác nhau. Một công ty cho vay trực tiếp sẽ được đánh giá bởi số lượng giao dịch thành công, giá trị giao dịch thành công. Các start-up càng đạt được tốc độ tăng trưởng cao cho những chỉ tiêu thuộc lĩnh vực của mình (số lượng người dùng, số lượng đơn hàng tăng nhanh) trước khi gọi vốn, càng có khả năng đạt được mức định giá cao.

Hillel Zidel, Giám đốc điều hành quỹ cổ phiếu tăng trưởng Kennet Partners, cho rằng nhà đầu tư có xu hướng trả giá cao hơn cho các start-up đã tạo ra được dòng doanh thu đều đặn. Còn không, nhà đầu tư sẽ đặt trọng tâm vào các tài sản trí tuệ của start-up đó (chính là sản phẩm phần mềm, ứng dụng, mô hình kinh doanh đột phá) và tốc độ tăng trưởng đã đạt được đối với các chỉ tiêu hoạt động trọng yếu. Điều này càng khẳng định, start-up không chỉ được định giá qua dòng tiền tạo ra mà còn bằng việc tăng trưởng nhanh trong khi tạo ra tiền. Thông lệ phổ biến là một start-up cần phải tăng trưởng KPI ít nhất gấp 10 lần trong vòng 18 tháng.

Từ trước tới nay, mới chỉ có vài trường hợp ngoại lệ có thể gọi vốn trước khi sản phẩm có thành quả (người dùng) và người sáng lập có tiếng tăm. Kevin Systrom, “cha đẻ” của Instagram đã gọi được 500.000 đô la Mỹ ở vòng hạt giống khi mới chỉ có khuôn mẫu sản phẩm (prototype), lúc đó có tên là Brnb. Kevin làm việc hai năm tại Google, ngoài đó ra, anh cũng chẳng có kinh nghiệm khởi nghiệp gì. Tương tự với Ben Silbermann – người sáng lập Pinterest. Ở đây, các quỹ đầu tư mạo hiểm đã đánh cược vào chính những người sáng lập này và thực sự đã ra quyết định đầu tư dựa trên trực giác là chính.

Định giá là một nghệ thuật

Trên thực tế, đã có những trường hợp sau khi niêm yết, giá cổ phiếu các công ty start-up giảm xuống rất nhiều so với giá IPO, như trường hợp của Lending Club, OnDeck Capital, Square hay Enova. Nhưng không vì thế mà giới đầu tư mất niềm tin vào các công ty khởi nghiệp. Điều này cho thấy, cần có các phương thức định giá hợp lý cho từng loại hình công ty khởi nghiệp thay vì áp chung chuẩn với các ngành truyền thống. Cuối cùng, thị trường sẽ tự nó điều chỉnh và nhà đầu tư nào tìm được cổ phiếu đang có giá thấp hơn so với giá trị thực của nó sẽ là người có khả năng thu lời cao.
Như vậy, định giá các công ty start-up đòi hỏi sự sáng tạo hơn định giá các công ty niêm yết rất nhiều. Tuy nhiên, sự sáng tạo không chỉ giới hạn trong việc định giá các công ty start-up. Suy rộng ra, các chuyên viên phân tích các cổ phiếu niêm yết hay cổ phiếu công ty tư nhân (private equity) hoàn toàn có thể sáng tạo ra các thông số định giá phù hợp với từng ngành thay vì chỉ dựa vào các thông số có sẵn.

Một chuyên gia quản lý quỹ, cũng là thành viên của viện CFA tại Việt Nam cho hay, anh thường có những bộ chỉ số định giá (leading indicators) cho từng ngành nghề, là sự kết hợp của những thông số sẵn có trong giới phân tích và những nghiên cứu, tìm tòi về từng lĩnh vực, ngành nghề của riêng mình. Ví dụ, trong khi giới phân tích thường dùng chỉ tiêu doanh thu trên một đơn vị ghế luân chuyển (Revenue per available seat km - RASK) để đánh giá hiệu quả của các hãng hàng không, thì anh lại đánh giá bằng chỉ tiêu doanh thu trên mỗi ghế sẵn có (Revenue per available seats) để xác định hiệu quả chính xác hơn khi tính đến cả những máy bay hãng có nhưng trên thực tế không bay giờ nào (RASK chỉ tính trên số ghế có bay năm đó).

Xét cho cùng, định giá start-up là một nghệ thuật chứ không hẳn là khoa học đơn thuần. Peter Wendell, Giám đốc điều hành quỹ đầu tư mạo hiểm Sierra Ventures tại Mỹ, đồng thời là giảng viên Đại học Stanford nhận xét: “Đó hoàn toàn là nghệ thuật, không phải khoa học. Các công ty truyền thống thường được định giá bằng các chỉ số tài chính rõ ràng. Trong giới start-up thì khác, bởi nhìn chung đầu tư vào start-up là đầu tư vào hy vọng và ước mơ”.

Viện CFA là tổ chức quốc tế hàng đầu hoạt động trong ngành tài chính, với mục tiêu đặt ra các chuẩn mực về kiến thức chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp trong ngành tài chính, nhằm tạo một môi trường thu hút các nhà đầu tư, thị trường hoạt động hiệu quả và tăng trưởng kinh tế. Hiện nay Viện CFA có hơn 145.000 thành viên tại 149 Hội CFA địa phương và 73 quốc gia. Tại Việt Nam,
Cộng đồng CFA có hơn 200 người có Chứng chỉ CFA và là thành viên Viện CFA.
Website: www.cfainstitute.org
Cộng đồng CFA tại Việt Nam: https://cfacommunity.vn/
-----------------------
(1) Peer-to-peer lending là cơ chế cho vay trực tiếp sử dụng công nghệ trực tuyến kết nối người cần vốn và người có vốn mà không cần qua trung gian (như mô hình ngân hàng truyền thống).
(2) Lakestar là một trong những cổ đông của công ty fintech Algomi có trụ sở tại London, Anh Quốc. Ngoài Algomi, Lakestar cũng đầu tư vào 5 công ty fintech khác và cũng chính là cổ đông của các start-up công nghệ đình đám như Skype, Facebook, Spotify và Airbnb.

>> Liên hệ Mua bán cổ phiếu - Tư vấn đầu tư - Ủy thác đầu tư   
 

Source: http://www.thesaigontimes.vn/165409/Ven-bu%CC%81c-ma%CC%80n-di%CC%A3nh-gia%CC%81-start-up-cong-nghe%CC%A3-va%CC%80-fintech.html
Share:

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?

Follow by Email